Chịu áp lực từ cả yếu tố nội tại và tác động bên ngoài
Ngành cao su nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ cả yếu tố bên ngoài và nội tại, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và tính bền vững của ngành.
Trước hết, áp lực về giá đang ngày càng rõ nét khi nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên trên thế giới có dấu hiệu suy giảm. Trong 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng xuất khẩu ước đạt khoảng 467 nghìn tấn, tăng 3,2%, nhưng kim ngạch chỉ đạt 868 triệu USD, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm 2025. Điều này cho thấy xu hướng giá xuất khẩu cao su đi xuống và rất biến động ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập của người trồng cao su.
Cùng với đó, cơ cấu thị trường xuất khẩu còn tiềm ẩn rủi ro lớn khi phụ thuộc vào một thị trường. Hiện nay, thị trường Trung Quốc chiếm hơn 69% kim ngạch xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam. Mức độ tập trung cao này khiến ngành dễ bị tác động trước các thay đổi về chính sách và nhu cầu, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc dự kiến áp dụng chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số quốc gia châu Phi từ tháng 5/2026, qua đó làm gia tăng cạnh tranh và nguy cơ suy giảm thị phần của cao su Việt Nam trong trung và dài hạn.
Đồng thời, các yếu tố địa chính trị và biến động kinh tế toàn cầu đang làm gia tăng chi phí đầu vào. Giá dầu tăng kéo theo chi phí vận chuyển, logistics và vật tư đầu vào như phân bón tăng, làm thu hẹp biên lợi nhuận và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu.
Một khó khăn khác cần phải đề cập đến là xu hướng gia tăng các rào cản thương mại và yêu cầu tiêu chuẩn. Theo đó, quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu dự kiến áp dụng trong giai đoạn 2026 - 2027 đặt ra yêu cầu rất cao về truy xuất nguồn gốc, trong khi hơn 50% nguồn cung cao su tại Việt Nam đến từ khu vực tiểu điền. Điều này khiến việc đáp ứng các tiêu chuẩn này gặp nhiều khó khăn, nếu không có giải pháp kịp thời, ngành cao su có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng tại thị trường EU.
Ở góc độ nội tại, ngành cao su vẫn đang đối mặt với những hạn chế như diện tích có xu hướng thu hẹp theo định hướng tái cơ cấu; một phần diện tích đã già cỗi, năng suất giảm, trong khi tiến độ tái canh còn chậm, ảnh hưởng đến nguồn cung trung và dài hạn.
Thêm vào đó, năng lực chế biến sâu còn hạn chế, tỉ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao chưa lớn. Ngành công nghiệp chế biến sản phẩm cao su vẫn gặp khó khăn trong cạnh tranh với hàng nhập khẩu giá rẻ và còn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.
Một số vướng mắc về cơ chế, chính sách tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là tình trạng chậm hoàn thuế giá trị gia tăng, làm ảnh hưởng đến dòng tiền và khả năng xoay vòng vốn; chính sách thuế đối với gỗ cao su thanh lý chưa thực sự phù hợp, làm hạn chế khả năng tận dụng nguồn thu và gia tăng giá trị của ngành.
Phát triển bền vững ngành cao su
Trước những khó khăn nêu trên, để duy trì đà tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, Hiệp hội Cao su Việt Nam đề xuất một số định hướng trọng tâm.
Cụ thể, trong ngắn hạn, cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp ổn định dòng tiền và duy trì sản xuất, trong đó việc đẩy nhanh tiến độ hoàn thuế giá trị gia tăng và triển khai các gói tín dụng với lãi suất phù hợp là rất cần thiết; cần tăng cường xúc tiến thương mại theo hướng có trọng tâm, mở rộng thị trường xuất khẩu ngoài Trung Quốc nhằm giảm thiểu rủi ro phụ thuộc.
Việc nâng cao năng lực cung cấp thông tin và dự báo thị trường cũng cần được chú trọng để doanh nghiệp chủ động ứng phó với các biến động về giá, chính sách và chuỗi cung ứng.
Về dài hạn, Hiệp hội Cao su Việt Nam cho rằng cần hoàn thiện khung thể chế, chính sách theo hướng hỗ trợ phát triển bền vững ngành cao su, trong đó có việc xem xét điều chỉnh chính sách thuế đối với gỗ cao su thanh lý và thúc đẩy các cơ chế tín dụng xanh.
Đặc biệt, cần sớm xây dựng và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc cho ngành cao su ở cấp quốc gia, gắn với mã số vùng trồng và có cơ chế hỗ trợ phù hợp cho khu vực tiểu điền, nhằm đáp ứng yêu cầu của các thị trường như EU.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy liên kết chuỗi giữa doanh nghiệp và người sản xuất nhằm kiểm soát chất lượng nguyên liệu và nâng cao khả năng truy xuất, bởi việc đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển các sản phẩm công nghiệp cao su có giá trị gia tăng cao cũng là hướng đi quan trọng để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô.
Đáng lưu ý, Hiệp hội cho rằng cần tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, đồng thời tăng cường quảng bá và định vị thương hiệu “Cao su Việt Nam” gắn với tiêu chuẩn chất lượng và phát triển bền vững trên thị trường quốc tế.
Số liệu ghi nhận, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành cao su năm 2025 ước đạt 11,5 ỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cao su là 5,1 tỉ USD, cao su thiên nhiên là 3,3 tỉ USD và gỗ cao su là 3,1 tỉ USD.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành dự kiến đạt khoảng 3,5 tỉ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ gia tăng về sản lượng, trong khi giá xuất khẩu có xu hướng giảm. Trong đó, sản phẩm cao su ước đạt 1,7 tỉ USD, chiếm khoảng 47,8%, gỗ cao su ước đạt 949 triệu USD, chiếm khoảng 27,3% và cao su thiên nhiên ước đạt 868 triệu USD, chiếm khoảng 24,8% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
