Những sức ép từ các biến động kinh tế toàn cầu khó đoán định
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số được đặt ra cho giai đoạn tới, bài toán điều hành chính sách đang trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Ngân hàng Nhà nước xác định sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa theo hướng mở rộng với chính sách tiền tệ linh hoạt, thận trọng nhằm vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Tuy nhiên, dư địa của chính sách tiền tệ hiện nay được nhìn nhận là không còn quá rộng. Theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, hàng loạt biến động từ kinh tế thế giới đang tạo ra áp lực lớn đối với công tác điều hành. Những căng thẳng địa chính trị kéo dài tại Trung Đông tiếp tục đẩy giá dầu thế giới duy trì ở mức cao, qua đó khiến áp lực lạm phát toàn cầu chưa thể hạ nhiệt như kỳ vọng.
Không chỉ vậy, nhiều tổ chức tài chính quốc tế đã bắt đầu điều chỉnh lại dự báo kinh tế theo hướng thận trọng hơn. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo lạm phát toàn cầu năm 2025 có thể ở quanh mức 4,4%, cao hơn so với các kỳ vọng trước đó.
Điều này khiến lộ trình giảm lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn, đặc biệt là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trở nên khó đoán định hơn. Khi Fed chưa thể sớm nới lỏng chính sách tiền tệ, áp lực lên tỷ giá, lãi suất và dòng vốn quốc tế sẽ tiếp tục đè nặng lên những nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.
Ở trong nước, thách thức còn lớn hơn khi nền kinh tế cùng lúc phải theo đuổi nhiều mục tiêu. Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên đòi hỏi dòng vốn tín dụng phải được thúc đẩy mạnh mẽ để hỗ trợ sản xuất, đầu tư và tiêu dùng. Nhưng nếu nới lỏng quá mức, áp lực lạm phát và rủi ro mất ổn định vĩ mô sẽ gia tăng. Bài toán điều hành hiện nay vì thế được ví như việc phải cùng lúc giải quyết “bộ ba bất khả thi”: vừa duy trì tăng trưởng cao, vừa kiểm soát lạm phát, vừa đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính.
Tại tọa đàm về vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế diễn ra ngày 8/5, TS. Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê, cũng cảnh báo áp lực lạm phát trong năm 2026 có thể lớn hơn dự kiến. Theo ông, những bất ổn địa chính trị, biến động giá hàng hóa thế giới cùng nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu có thể khiến lạm phát vượt mục tiêu 4,5% nếu không có các giải pháp điều hành đủ linh hoạt và kịp thời.
Trước hàng loạt sức ép từ bên ngoài lẫn bên trong nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết mục tiêu xuyên suốt vẫn là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và giữ vững niềm tin thị trường. Tuy nhiên, cơ quan điều hành cũng nhìn nhận rằng chính sách tiền tệ sẽ không thể trở thành “đòn bẩy duy nhất” cho tăng trưởng như trước đây.
Theo ông Phạm Chí Quang, động lực tăng trưởng bền vững trong thời gian tới cần đến từ đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng của nền kinh tế. Trong tổng thể điều hành, chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò dẫn dắt thông qua đầu tư công, kích thích tổng cầu và hỗ trợ doanh nghiệp; còn chính sách tiền tệ sẽ đóng vai trò hỗ trợ, giữ ổn định mặt bằng lãi suất, neo kỳ vọng lạm phát và đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.
Sự phối hợp đồng bộ giữa hai chính sách được xem là yếu tố then chốt để giữ ổn định tâm lý thị trường trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định. Đây cũng là nền tảng để tránh những cú sốc lớn đối với tỷ giá, lãi suất và thị trường tài chính, qua đó tạo dư địa cho cả các động lực tăng trưởng truyền thống lẫn các động lực mới phát huy hiệu quả trong giai đoạn tới.
Linh hoạt điều hành để giữ ổn định lãi suất thị trường
Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp bởi áp lực lạm phát và biến động kinh tế toàn cầu, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn cho thấy sự chủ động trong điều hành nhằm hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, đồng thời duy trì mặt bằng lãi suất ổn định để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế.
Thời gian qua, cơ quan điều hành đã liên tục triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm giảm chi phí vốn, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng hạ lãi suất cho vay. Mục tiêu xuyên suốt là vừa đảm bảo an toàn hệ thống tài chính, vừa hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh trong bối cảnh nền kinh tế vẫn đang chịu nhiều sức ép từ bên ngoài.
Khi thị trường tiền tệ xuất hiện dấu hiệu căng thẳng thanh khoản, đặc biệt trong những giai đoạn nhu cầu vốn ngắn hạn của các ngân hàng tăng mạnh, NHNN đã nhanh chóng can thiệp thông qua kênh thị trường mở (OMO).
Không chỉ bơm lượng tiền lớn ra hệ thống, cơ quan quản lý còn kéo dài thời hạn cho vay trên thị trường mở lên tới 2 tháng, thay vì chỉ 1 đến 2 tuần như thông lệ trước đây. Động thái này được đánh giá là mang tính hỗ trợ mạnh hơn, giúp các tổ chức tín dụng chủ động cân đối dòng tiền và giảm áp lực huy động vốn bằng mọi giá.
Song song với nghiệp vụ thị trường mở, NHNN cũng triển khai các giao dịch hoán đổi ngoại tệ nhằm bổ sung thêm nguồn cung VND cho hệ thống ngân hàng. Đây được xem là giải pháp kỹ thuật quan trọng trong bối cảnh tỷ giá và dòng vốn quốc tế biến động khó lường, giúp đảm bảo thanh khoản tiền đồng mà vẫn giữ ổn định thị trường ngoại hối.
Nhờ hàng loạt biện pháp điều hành linh hoạt, thanh khoản của hệ thống ngân hàng cơ bản được duy trì ổn định. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã dần hạ nhiệt sau những thời điểm tăng mạnh và bắt đầu lan tỏa xuống thị trường dân cư cũng như hoạt động tín dụng thực tế.
Theo thống kê mới nhất, lãi suất huy động phát sinh mới hiện dao động quanh mức 5,7%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn trước. Nhiều ngân hàng thương mại lớn cũng đã chủ động điều chỉnh giảm lãi suất huy động ở các kỳ hạn dài. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm tạo dư địa để giảm thêm lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn rẻ hơn trong bối cảnh sức cầu và hoạt động sản xuất vẫn phục hồi chưa đồng đều.
Tuy nhiên, phía sau những tín hiệu tích cực, bức tranh kinh tế vẫn tồn tại nhiều áp lực đáng lo ngại. Một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay là tốc độ tăng trưởng huy động vốn đang chậm hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng. Điều này phản ánh nhu cầu vốn của nền kinh tế đang tăng nhanh, trong khi khả năng hấp thụ tiết kiệm trong dân cư và doanh nghiệp chưa theo kịp.
Theo số liệu từ NHNN, quy mô huy động vốn bằng VND hiện thấp hơn dư nợ tín dụng khoảng 2 triệu tỷ đồng. Khoảng chênh lệch lớn này cho thấy áp lực tạo lập nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng đang ngày càng gia tăng, nhất là trong bối cảnh nhu cầu tín dụng phục vụ tăng trưởng kinh tế tiếp tục được mở rộng.
Để giải quyết bài toán cân đối vốn, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng năm nay ở mức khoảng 15%, song nhấn mạnh việc điều hành sẽ được thực hiện linh hoạt theo diễn biến thực tế của nền kinh tế và lạm phát. Dòng vốn tín dụng sẽ tiếp tục được ưu tiên cho các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, công nghệ cao và các động lực tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Ngược lại, các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro sẽ tiếp tục được giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống tài chính. Cơ quan điều hành cũng đặc biệt lưu ý nguy cơ tỷ lệ tín dụng trên GDP tăng quá cao trong thời gian dài có thể tạo ra những hệ lụy lớn cho nền kinh tế, bao gồm rủi ro nợ xấu, bong bóng tài sản và mất cân đối dòng vốn.
Trong các buổi làm việc với các tổ chức tài chính quốc tế gần đây, lãnh đạo NHNN nhiều lần khẳng định định hướng xây dựng một hệ thống tài chính cân bằng và bền vững hơn cho Việt Nam. Theo đó, mục tiêu dài hạn là giảm dần sự phụ thuộc quá lớn của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng bằng cách thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo hướng minh bạch và chuyên nghiệp hơn.
Việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung và dài hạn không chỉ giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng mà còn góp phần nâng cao khả năng quản trị rủi ro của toàn bộ thị trường tài chính. Đây cũng được xem là điều kiện quan trọng để Việt Nam tiến tới xây dựng cấu trúc tài chính hiện đại và bền vững hơn trong dài hạn.
Đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam, ông Jochen Schmittmann, đánh giá cao cách thức phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ của Việt Nam trong thời gian qua. Theo IMF, Việt Nam tiếp tục là một trong những điểm sáng tăng trưởng của khu vực nhờ khả năng điều hành linh hoạt, chủ động và thận trọng trước các cú sốc bên ngoài.
Dù vậy, các chuyên gia quốc tế cũng lưu ý rằng Việt Nam cần tiếp tục theo dõi sát các tác động lan tỏa từ biến động giá năng lượng, xu hướng thương mại toàn cầu cũng như những thay đổi trong chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn. Đây sẽ là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới lạm phát, tỷ giá và ổn định tài chính trong thời gian tới.
Lãnh đạo NHNN khẳng định ưu tiên hàng đầu vẫn là kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Đây được xem là nền tảng cốt lõi để duy trì niềm tin thị trường, thu hút đầu tư và tạo dư địa cho các chính sách phát triển kinh tế - xã hội phát huy hiệu quả trong giai đoạn 2026 – 2030.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
