Hơn 10 triệu đồng, nhiều lựa chọn cho học sinh, sinh viên
Càng gần thời điểm khai giảng năm học mới, nhu cầu tìm mua xe máy điện, xe điện phục vụ việc đi học, đi lại trong thành phố bắt đầu được nhiều gia đình quan tâm. So với vài năm trước, thị trường hiện có nhiều lựa chọn hơn, từ những mẫu xe điện phổ thông chỉ hơn 10 triệu đồng đến những dòng có giá 30–50 triệu đồng với quãng đường và tốc độ cao hơn.
Khảo sát trên website chính thức của VinFast cho thấy đây là một trong những thương hiệu đang có dải sản phẩm khá rộng.
Ở nhóm giá thấp, VinFast Amio và Amio S đang có mức giá khoảng 11,6 triệu đồng; Amio S2 khoảng 12 triệu đồng; Flazz Max 12,5 triệu đồng; ZGoo 13,3 triệu đồng; Flazz 14,2 triệu đồng và Evo Lite khoảng 14,3 triệu đồng.
Ở mức cao hơn, Evo Neo có giá khoảng 17,8 triệu đồng, Evo khoảng 18,8 triệu đồng. Đây là khoảng giá tương đối gần với những dòng xe máy phổ thông, phù hợp với nhóm khách hàng cần phương tiện chủ yếu để đi học, đi làm hoặc di chuyển quãng ngắn trong khu vực nội thành.
Tuy nhiên, người mua cũng cần lưu ý cách niêm yết giá của từng dòng xe. Một số sản phẩm có mức giá hiển thị chưa bao gồm pin. Chẳng hạn, Evo được giới thiệu với giá khoảng 18,8 triệu đồng khi chưa kèm pin, trong khi mức giá có pin cao hơn. Evo Lite cũng có sự khác biệt giữa phương án mua xe riêng và mua kèm pin.
Điều này khiến việc so sánh giá xe điện không thể chỉ dựa vào con số niêm yết ban đầu. Người mua cần hỏi rõ mức giá cuối cùng đã bao gồm pin, bộ sạc và các phụ kiện cần thiết hay chưa.
Bên cạnh VinFast, các thương hiệu xe điện có nguồn gốc nước ngoài và lắp ráp trong nước cũng đang tham gia mạnh vào phân khúc bình dân.
Theo ghi nhận của phóng viên tại một điểm bán xe Kazuki, nhân viên giới thiệu dòng xe đang được trưng bày có giá khoảng 17-17,5 triệu đồng. Người bán cho biết sản phẩm có nguồn gốc Trung Quốc, được lắp ráp tại Việt Nam, sử dụng ắc quy, quãng đường di chuyển khoảng 70 km sau mỗi lần sạc đầy và tốc độ tối đa gần 50 km/h.
Nhân viên này chia sẻ thêm, trong điều kiện sử dụng bình thường, bộ ắc quy khoảng ba năm mới phải thay. Với mức giá trên, xe Kazuki đang nằm ngay trong phân khúc cạnh tranh khá mạnh trước mùa khai giảng, khi nhiều phụ huynh tìm phương tiện có giá dưới 20 triệu đồng cho con đi học.
Đối với những dòng xe sử dụng ắc quy giá khoảng 15-20 triệu đồng, người mua nên yêu cầu đơn vị bán hàng cung cấp rõ thông số kỹ thuật, quãng đường thực tế, thời gian bảo hành và chi phí thay ắc quy trước khi quyết định.
Đây là yếu tố đáng lưu ý bởi với học sinh, sinh viên sử dụng xe hàng ngày, quãng đường di chuyển và tuổi thọ bộ lưu trữ điện có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sử dụng trong vài năm.
Xe 30-50 triệu đồng cạnh tranh bằng quãng đường và tốc độ
Nếu phân khúc quanh 12-20 triệu đồng hướng mạnh tới nhu cầu đi lại phổ thông thì ở khoảng giá từ 30 triệu đồng trở lên, thị trường xe điện lại có sự khác biệt rõ về công suất, quãng đường và công nghệ pin.
Dat Bike là một ví dụ. Theo thông tin được doanh nghiệp công bố, dòng ERA có mức giá khởi điểm khoảng 29,9 triệu đồng đối với ERA E2 và từ 32,9 triệu đồng đối với ERA E1. Nhà sản xuất giới thiệu dòng xe này có khả năng di chuyển tới khoảng 200 km sau mỗi lần sạc trong điều kiện tiêu chuẩn.
Đối với dòng Quantum S, mức giá tiếp tục cao hơn. Quantum S3 có giá từ khoảng 34,9 triệu đồng; Quantum S2 từ 42,9 triệu đồng và Quantum S1 từ khoảng 49,9 triệu đồng, tùy phiên bản và màu sắc.
Khoảng cách giá so với nhóm xe điện phổ thông là khá lớn. Tuy nhiên, đổi lại, Dat Bike tập trung vào khả năng vận hành ở tốc độ cao và quãng đường dài.
Theo thông số nhà sản xuất, Quantum S3 có thể di chuyển khoảng 200 km mỗi lần sạc, tốc độ tối đa khoảng 90 km/h. Quantum S2 có phạm vi công bố tới khoảng 285 km, trong khi Quantum S1 cũng đạt mức tương tự nhưng tốc độ tối đa có thể lên tới 100 km/h.
Như vậy, nếu một mẫu xe điện bình dân sử dụng ắc quy giá khoảng 17 triệu đồng chủ yếu phục vụ nhu cầu đi học, đi làm gần thì một chiếc xe điện gần 50 triệu đồng đã hướng tới khả năng vận hành tương đương nhiều dòng xe máy động cơ xăng.
VinFast cũng đang có những sản phẩm nằm trong phân khúc này. Ngoài nhóm xe phổ thông dưới 20 triệu đồng, thương hiệu này có EvoGrand khoảng 22,5 triệu đồng, Feliz II khoảng 23 triệu đồng, Feliz 2025 khoảng 26 triệu đồng. Các dòng cao hơn như Kyo khoảng 30 triệu đồng, Vero X 34,9 triệu đồng, Viper khoảng 35 triệu đồng và Kinet khoảng 40 triệu đồng.
Nhìn tổng thể, chỉ riêng ba thương hiệu được khảo sát đã cho thấy thị trường xe điện đang hình thành khá rõ nhiều phân khúc.
Nhóm khoảng 12-20 triệu đồng có lợi thế về khả năng tiếp cận, phù hợp với gia đình mua xe cho con đi học hoặc người trẻ cần phương tiện đi làm gần nhà. Đây cũng là nhóm có sự cạnh tranh lớn về giá.
Nhóm khoảng 20-30 triệu đồng bắt đầu có những sản phẩm với quãng đường dài hơn, thiết kế và trang bị cao hơn.
Trong khi đó, nhóm 30-50 triệu đồng không còn cạnh tranh chủ yếu bằng giá rẻ mà tập trung vào pin dung lượng lớn, tốc độ, công suất động cơ, khả năng sạc nhanh và phạm vi di chuyển.
Cận kề năm học mới, với những gia đình đang cân nhắc mua xe điện, giá bán vì thế chỉ nên được xem là tiêu chí đầu tiên.
Một chiếc xe có giá 15-17 triệu đồng nhưng sử dụng ắc quy sẽ có bài toán chi phí khác với một chiếc xe sử dụng pin lithium giá 25-30 triệu đồng. Người mua cần tính thêm quãng đường mỗi ngày, tuổi thọ pin hoặc ắc quy, chi phí thay thế, thời gian sạc, chế độ bảo hành và hệ thống dịch vụ sau bán hàng.
Đặc biệt với học sinh, phụ huynh cũng cần lựa chọn loại phương tiện phù hợp với độ tuổi và điều kiện sử dụng, thay vì chỉ quan tâm xe có tốc độ cao hay giá bán thấp.
Mùa khai giảng năm nay vì vậy có thể chứng kiến cuộc cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường xe điện. Từ những mẫu xe hơn 10 triệu đồng tới những dòng gần 50 triệu đồng, người tiêu dùng đang có nhiều lựa chọn hơn, nhưng đồng thời cũng phải cân nhắc kỹ hơn câu hỏi: mức giá nào thực sự phù hợp với nhu cầu đi học, quãng đường sử dụng và chi phí vận hành trong nhiều năm?
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
