Thu hút hơn 2,6 tỷ USD đầu tư, tỷ lệ lấp đầy các KCN hiện hữu đạt 80%
Số liệu từ Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM ghi nhận, tính đến ngày 30/6/2026, tổng vốn thu hút đầu tư là 2.611,24 triệu USD, đạt 61,44% chỉ tiêu năm 2026 (4.250 triệu USD). Trong đó, tổng vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.574,7 triệu USD (cấp mới 65 dự án đầu tư với vốn đầu tư đăng ký là 867,45 triệu USD; điều chỉnh tăng vốn 83 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký tăng 707,26 triệu USD).
Tổng vốn đầu tư trong nước đạt 26.950,1 tỷ đồng, tương đương 1.036,54 triệu USD (tỷ giá 26.000 đồng/USD) (cấp mới 57 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 8.941,83 tỷ đồng; điều chỉnh tăng vốn 34 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký điều chỉnh tăng 18.008,28 tỷ đồng).
Về phát triển công nghiệp công nghệ cao, theo các quy hoạch được phê duyệt, TP.HCM có 105 khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích là 50.288,14 ha (chiếm 7,4% diện tích tự nhiên). Trong đó, 67 KCX, KCN đã có quyết định thành lập, bao gồm 3 KCX và 55 KCN đã đi vào hoạt động, tổng diện tích 22.410,28 ha, chiếm 44.6% quy mô diện tích quy hoạch dự kiến dành cho các KCX, KCN, tỷ lệ lấp đầy đạt khoảng 80%.
Dịch chuyển sang mô hình KCN sinh thái, thông minh và thâm nhập sâu
Trong giai đoạn tới, TP.HCM định hướng phát triển hệ thống KCX, KCN theo mô hình KCN thế hệ mới, hiện đại, chuyên sâu, xanh và thông minh; gắn chuyển đổi mô hình tăng trưởng công nghiệp với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.
Các KCX, KCN hiện hữu từng bước được rà soát, tái cấu trúc theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng hàm lượng công nghệ, giảm thâm dụng lao động và tài nguyên; cũng như phát triển các mô hình KCN công nghệ cao, KCN sinh thái, KCN thông minh, KCN chuyên ngành, KCN gắn với logistics, khu công nghệ số tập trung và mô hình KCN - đô thị - dịch vụ phù hợp từng khu vực. Về không gian phát triển, khu vực TP.HCM trước đây được định hướng giữ vai trò trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, giáo dục - đào tạo, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), tài chính và dịch vụ.
Khu vực Bình Dương trước đây phát huy lợi thế về sản xuất công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất quy mô lớn và công nghiệp công nghệ 2 cao. Trong khi, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây tập trung phát triển kinh tế biển, công nghiệp gắn với cảng nước sâu, logistics, công nghiệp dầu khí và Khu thương mại tự do.
Trong thời gian qua, tại các KCX, KCN đã có một số doanh nghiệp tham gia vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, phát triển phần cứng, phần mềm chức năng cho mạch tích hợp và sản xuất thiết bị, linh kiện phục vụ ngành bán dẫn như Công ty TNHH Thiết kế Renesas Việt Nam, Công ty TNHH Ampere Computing Vietnam, Công ty TNHH Mtex (Việt Nam), Công ty TNHH Công nghệ Marvell Việt Nam, Công ty TNHH Kamet Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng để Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM tiếp tục thu hút các dự án có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Trên cơ sở đó, Ban định hướng tập trung ưu tiên các ngành, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như điện tử, bán dẫn, AI, dữ liệu lớn, chuỗi khối, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghiệp môi trường, năng lượng tái tạo và công nghiệp hỗ trợ; cũng như chuyển dần từ mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ, thâm dụng tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Về chuyển đổi xanh, chuyển đối số trong sản xuất các KCX, KCN trên địa bàn thành phố đang từng bước triển khai ứng dụng AI, tự động hóa và chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất, quản lý hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực. Mục tiêu là nâng cao năng suất, tối ưu hóa vận hành, tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí và tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu.
Về chuyển đổi số, thành phố khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), robot công nghiệp, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), hệ thống điều khiển tự động và các nền tảng quản trị sản xuất thông minh (Smart Factory, MES, ERP) nhằm tự động hóa dây chuyền sản xuất, nâng cao năng suất lao động, kiểm soát chất lượng và tăng tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.
Đồng thời, Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM tiếp tục phát triển hạ tầng số tại các KCX, KCN thông qua mở rộng phủ sóng 5G, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và triển khai các nền tảng quản lý thông minh phục vụ quản lý hạ tầng, môi trường, đầu tư và an ninh.
Về chuyển đổi xanh, Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, thiết bị tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo, áp dụng sản xuất sạch và kinh tế tuần hoàn nhằm giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG. Ngoài ra, Ban phát triển mô hình khu công nghiệp sinh thái thông qua các giải pháp cộng sinh công nghiệp, tái sử dụng nước, 3 tái chế chất thải, thu hồi năng lượng và chia sẻ hạ tầng kỹ thuật giữa các doanh nghiệp trong khu công nghiệp.
Nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ
Để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ và xây dựng nhà máy thông minh. Cụ thể, khảo sát nhu cầu đổi mới công nghệ; kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo; hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, chính sách hỗ trợ lãi suất và khuyến khích sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ cho hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, Ban đẩy mạnh triển khai các chương trình hợp tác quốc tế như dự án JICA về khu công nghiệp thông minh, sinh thái và dự án SECO/UNIDO nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, cộng sinh công nghiệp và phát triển bền vững.
Ngoài ra, khuyến khích doanh nghiệp phát triển nguồn nhân lực số thông qua đào tạo kỹ năng số, kỹ năng vận hành thiết bị thông minh và quản trị sản xuất số cho người lao động, đồng thời tăng cường ứng dụng AI, IoT và các nền tảng số trong giám sát phát thải, quản lý năng lượng và quản lý môi trường theo thời gian thực, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
