Kiểm soát lạm phát để chính sách tiền lương phát huy hiệu quả

Việc điều chỉnh lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng/tháng từ ngày 1/7/2026 được kỳ vọng cải thiện thu nhập cho hơn 2 triệu cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, điều quan trọng không chỉ là mức lương tăng thêm mà còn là khả năng giữ ổn định mặt bằng giá, bảo vệ sức mua thực tế của người lao động trong bối cảnh áp lực lạm phát vẫn hiện hữu.

Tăng lương cơ sở gắn với mục tiêu bảo đảm sức mua của người lao động

Theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP, từ ngày 1/7/2026, lương cơ sở được điều chỉnh tăng 8%, lên mức 2,53 triệu đồng/tháng. Đây là bước đi tiếp theo trong lộ trình cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, góp phần từng bước cải thiện thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Báo cáo của Bộ Nội vụ cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, Bộ đã tập trung xây dựng, chuẩn bị kỹ lưỡng và đề xuất các phương án cụ thể thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo lộ trình; đồng thời kịp thời tham mưu xử lý các vấn đề phát sinh về tiền lương trong khu vực công, phù hợp với yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tinh giản biên chế.

Kiểm soát lạm phát để chính sách tiền lương phát huy hiệu quả

Theo Bộ Nội vụ, việc điều chỉnh tiền lương nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế tiền lương khu vực công theo hướng từng bước cải thiện thu nhập, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền lương trong khu vực doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, khuyến khích nâng cao năng suất lao động và xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định.

Tuy nhiên, đối với người lao động, điều được quan tâm không chỉ là con số trên bảng lương mà là giá trị thực của khoản thu nhập sau khi đã trừ đi tác động của lạm phát. Thực tế cho thấy, nếu giá thuê nhà, thực phẩm, giáo dục, y tế hay các dịch vụ thiết yếu đồng loạt tăng sau mỗi đợt điều chỉnh lương, phần thu nhập tăng thêm sẽ nhanh chóng bị thu hẹp. Vì vậy, hiệu quả của chính sách tiền lương phụ thuộc rất lớn vào khả năng kiểm soát mặt bằng giá và ổn định sức mua của đồng tiền. 

Theo Cục Thống kê, bình quân 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,12%. Riêng tháng 6, CPI giảm 0,39% so với tháng trước nhờ giá xăng dầu giảm theo diễn biến của thị trường thế giới nhưng vẫn tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

Kiểm soát mặt bằng giá trước áp lực chi phí đầu vào

Tại họp báo công bố số liệu kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm, bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng Ban Thống kê dịch vụ và giá (Cục Thống kê), nhận định "Trong nước, mặc dù chịu tác động từ bên ngoài nhưng chúng tôi đánh giá mặt bằng giá cơ bản được kiểm soát tốt. Bình quân 6 tháng đầu năm, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh hiệu quả của công tác điều hành giá, sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa."

Kiểm soát lạm phát để chính sách tiền lương phát huy hiệu quả
Bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng Ban Thống kê dịch vụ và giá (Cục Thống kê)

Theo bà Nguyễn Thu Oanh, diễn biến lạm phát chịu tác động của nhiều yếu tố đan xen. Một số nhóm hàng như nhà ở, điện sinh hoạt, vật liệu xây dựng và dịch vụ tiêu dùng tăng do chi phí đầu vào gia tăng cùng với sự phục hồi của nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, việc điều hành linh hoạt giá xăng dầu cùng nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào đã góp phần giảm áp lực tăng giá.

Số liệu thống kê cho thấy nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,72%, đóng góp 1,53 điểm phần trăm vào mức tăng CPI; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,79%, đóng góp 1,72 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 5,23%, trong đó giá nhiên liệu tăng 8,9%.

Bước sang nửa cuối năm, áp lực kiểm soát lạm phát được dự báo sẽ lớn hơn. Một trong những áp lực lớn nhất đến từ diễn biến của thị trường năng lượng thế giới. Bà Oanh phân tích: "Mặc dù xăng dầu chỉ chiếm khoảng 4,5% trong rổ hàng hóa tính CPI, nhưng đây là nhóm hàng có tác động lan tỏa rất lớn đến chi phí vận tải, logistics, sản xuất cũng như giá của nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ khác."

Bên cạnh đó, các chỉ số chi phí đầu vào vẫn duy trì ở mức cao. Cụ thể, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,18%; chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,4%; giá sản xuất ngành vận tải, kho bãi cũng ghi nhận mức tăng đáng kể.

Theo bà Oanh, nếu các chi phí đầu vào tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian dài, áp lực sẽ dần chuyển sang giá tiêu dùng, khiến công tác kiểm soát lạm phát trở nên khó khăn hơn. Ngoài yếu tố chi phí, nhu cầu tiêu dùng, đầu tư và du lịch thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm cũng có thể tạo thêm sức ép lên mặt bằng giá nếu nguồn cung hàng hóa không được chuẩn bị đầy đủ.

Ổn định mặt bằng giá là điều kiện để tăng lương phát huy hiệu quả

Một trong những băn khoăn lớn của người dân là liệu việc tăng lương cơ sở có kéo theo một đợt tăng giá hàng hóa và dịch vụ. Theo bà Nguyễn Thu Oanh, việc điều chỉnh tiền lương nhằm cải thiện đời sống người hưởng lương và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Bà cho biết về nguyên tắc, thu nhập tăng có thể làm tổng cầu tăng, qua đó tạo áp lực nhất định lên mặt bằng giá. Tuy nhiên, mức độ tác động không hoàn toàn phụ thuộc vào việc tăng lương mà còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác. Theo đó, tác động của việc tăng lương còn phụ thuộc vào quy mô điều chỉnh, phạm vi đối tượng được hưởng, khả năng đáp ứng nguồn cung hàng hóa cũng như công tác điều hành giá của Chính phủ.

Đáng chú ý, bà Nguyễn Thu Oanh nhấn mạnh: "Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, mỗi lần điều chỉnh tiền lương đều không đồng nghĩa với việc giá cả sẽ tăng tương ứng. Điều quan trọng là phải duy trì được sự cân đối giữa cung và cầu của nền kinh tế, đồng thời ngăn chặn các hành vi lợi dụng tâm lý tăng lương để đẩy giá hàng hóa lên bất hợp lý."

Theo bà, để tránh tình trạng "tăng lương rồi tăng giá", cần tiếp tục bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thị trường nhằm ngăn chặn các hành vi lợi dụng việc tăng lương để tăng giá không hợp lý; đồng thời điều hành linh hoạt các chính sách kinh tế vĩ mô để vừa nâng cao thu nhập của người dân, vừa giữ ổn định mặt bằng giá.

Kiểm soát lạm phát để chính sách tiền lương phát huy hiệu quả

Khảo sát gần 2.000 người lao động tại 196 doanh nghiệp do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thực hiện cho thấy bức tranh tài chính của người lao động vẫn còn nhiều áp lực. Có tới 54,3% người được hỏi cho biết thu nhập chỉ vừa đủ trang trải cuộc sống; 20,6% phải làm thêm giờ mới đủ chi tiêu; chỉ 7,9% có khả năng tích lũy. Đáng chú ý, gần 27% người lao động phải vay mượn hằng tháng để duy trì cuộc sống, cao hơn gấp đôi so với năm trước.

Những con số này cho thấy việc tăng lương có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống người lao động, song hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào khả năng duy trì sức mua của đồng tiền. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với công tác điều hành là vừa tiếp tục thực hiện lộ trình cải cách tiền lương, vừa kiểm soát tốt lạm phát thông qua sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ, điều hành giá và bảo đảm nguồn cung hàng hóa.

Nếu giữ được mặt bằng giá ổn định, khoản thu nhập tăng thêm sẽ thực sự chuyển hóa thành mức sống cao hơn cho người lao động. Ngược lại, nếu lạm phát vượt quá tốc độ tăng thu nhập, giá trị thực của đồng lương sẽ bị bào mòn, làm giảm hiệu quả của chính sách tiền lương cũng như tác động tích cực đối với tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế.

Tin khác
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Standard Chartered giữ dự báo GDP Việt Nam năm 2026 tăng 9,5%
Standard Chartered giữ dự báo GDP Việt Nam năm 2026 tăng 9,5%

Standard Chartered dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam quý III/2026 đạt 8,7% so với cùng kỳ năm trước, đưa tăng trưởng nửa cuối năm lên 10,6% và giữ nguyên dự báo GDP cả năm ở mức 9,5%. Sản xuất công nghiệp, thương mại và nhu cầu nội địa tiếp tục được xác định là những động lực hỗ trợ tăng trưởng trong những tháng cuối năm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc