Giảm tiền kiểm nhưng không để xuất hiện khoảng trống quản lý
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đang được hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh và tăng phân quyền.
Định hướng này nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục. Tuy nhiên, việc bỏ bớt các điều kiện kinh doanh cũng đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức quản lý, từ kiểm soát chặt ngay từ đầu sang quản lý dựa trên rủi ro, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, dữ liệu và hậu kiểm.
Vấn đề không nằm ở việc giảm bao nhiêu điều kiện, mà ở khả năng xây dựng được cơ chế thay thế đủ mạnh để thị trường vẫn được kiểm soát.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh việc cắt giảm và phân quyền không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý nhà nước. Sau khi giảm các điều kiện kinh doanh, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm vẫn là những công cụ cần thiết để Nhà nước kiểm soát thị trường.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, yêu cầu này đặc biệt quan trọng bởi không phải rủi ro nào cũng có thể phát hiện ngay tại thời điểm sản phẩm được đưa ra thị trường.
Một loại giống cây trồng không bảo đảm chất lượng có thể chỉ bộc lộ khi cây sinh trưởng, phát triển và cho năng suất thấp. Tương tự, phân bón không đạt tiêu chuẩn có thể gây ảnh hưởng sau cả một vụ sản xuất. Khi đó, việc phát hiện và xử lý vi phạm dù kịp thời cũng khó có thể bù đắp đầy đủ thiệt hại cho người nông dân.
Vì vậy, hậu kiểm không thể đơn thuần được hiểu là chờ đến khi có khiếu nại hoặc thiệt hại xảy ra mới kiểm tra. Cơ quan quản lý cần có khả năng nhận diện rủi ro sớm, theo dõi những nhóm sản phẩm có nguy cơ cao và nhanh chóng truy tìm nguồn gốc khi xuất hiện dấu hiệu bất thường.
Đặc biệt, việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đòi hỏi hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy trình quản lý phải rõ ràng. Khi doanh nghiệp được trao nhiều quyền chủ động hơn, tiêu chí để xác định đúng - sai và trách nhiệm khi vi phạm cũng phải cụ thể hơn.
Nếu những công cụ này chưa đủ mạnh, việc cắt giảm thủ tục có thể vô tình chuyển phần lớn rủi ro từ doanh nghiệp sang người sử dụng sản phẩm, trong đó nhóm chịu tác động trực tiếp có thể là nông dân.
Tự công bố đi cùng trách nhiệm và truy xuất
Giống cây trồng và phân bón là những nhóm sản phẩm được đặc biệt quan tâm khi thiết kế cơ chế quản lý mới. Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị khi bãi bỏ điều kiện kinh doanh cần đồng thời bổ sung công cụ quản lý thay thế, như quy định rõ thẩm quyền đình chỉ, hủy bỏ thông tin tự công bố sai, tăng cường truy xuất nguồn gốc và công khai các trường hợp vi phạm.
Điều này gắn với nguyên tắc doanh nghiệp được tự công bố thì phải tự chịu trách nhiệm. Khi không còn nhiều lớp tiền kiểm, trách nhiệm pháp lý đối với chất lượng sản phẩm và thông tin doanh nghiệp cung cấp ra thị trường phải càng rõ ràng.
Một sản phẩm được công bố đáp ứng tiêu chuẩn nhưng thực tế không đạt yêu cầu cần có cơ chế xử lý đủ nhanh, từ đình chỉ lưu thông, thu hồi đến xử phạt và công khai vi phạm. Chế tài càng minh bạch và có sức răn đe, cơ chế tự công bố càng có cơ sở để vận hành hiệu quả.
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cũng lưu ý rằng, bỏ điều kiện kinh doanh giống cây trồng không có nghĩa là bỏ các quy định cấm sản xuất, kinh doanh giống không bảo đảm chất lượng. Đây là ranh giới quan trọng để quá trình cải cách không làm suy yếu công cụ bảo vệ người sản xuất.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn Chiến nhấn mạnh việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải đi kèm hệ thống quy trình, quy phạm và quy chuẩn rõ ràng. Doanh nghiệp được tự công bố và tự chịu trách nhiệm nhưng vẫn nằm trong phạm vi giám sát của cơ quan quản lý.
Một trong những công cụ quan trọng nhất của mô hình này là dữ liệu. Khi sản phẩm có thể truy xuất đến doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, lô hàng và địa bàn tiêu thụ, cơ quan chức năng sẽ có khả năng khoanh vùng nhanh khi phát hiện vấn đề, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi.
Cách quản lý dựa trên dữ liệu cũng cho phép chuyển từ kiểm tra dàn trải sang kiểm tra có trọng tâm. Những doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt có thể được giảm áp lực kiểm tra, trong khi các sản phẩm và doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao cần được giám sát thường xuyên hơn.
Một yêu cầu khác là phải chú trọng nhóm nông dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đây là những khu vực có thể hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin, kiểm tra chất lượng vật tư đầu vào và phản ứng khi phát hiện sản phẩm không phù hợp.
Nếu hệ thống hậu kiểm không đủ nhanh và dữ liệu không được chia sẻ hiệu quả, người chịu thiệt hại đầu tiên có thể chính là các hộ sản xuất nhỏ, vốn có ít khả năng tự bảo vệ trước rủi ro.
Dự thảo luật đang tiếp tục được chỉnh lý để trình Quốc hội xem xét, thông qua theo chương trình kỳ họp. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các cơ chế quản lý thay thế khi bãi bỏ điều kiện kinh doanh giống cây trồng, phân bón, đồng thời tăng cường hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng.
Nhìn rộng hơn, cải cách điều kiện kinh doanh chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng một phương thức quản lý hiệu quả hơn. Nhà nước có thể giảm kiểm soát trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường, nhưng phải nâng năng lực phát hiện, truy xuất và xử lý khi rủi ro xuất hiện.
Thước đo của cải cách vì thế không chỉ là số lượng điều kiện được bãi bỏ. Quan trọng hơn là doanh nghiệp có được tạo thuận lợi thực chất hay không, đồng thời người sản xuất và người tiêu dùng có tiếp tục được bảo vệ bởi một hệ thống hậu kiểm đủ nhanh, dữ liệu đủ mạnh và chế tài đủ sức răn đe hay không.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
