Ngày 19/1, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm USD/VND ở mức 25.132 VND, tăng 1 đồng so với chốt phiên cuối tuần trước (16/1). Theo đó, biên độ giao dịch được xác định với tỷ giá trần là 26.388 VND/USD và tỷ giá sàn ở mức 23.875 VND/USD. Giá mua vào USD do Ngân hàng Nhà nước niêm yết là 23.926 VND, trong khi giá bán ra ở mức 26.338 VND.
Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD/VND phổ biến được niêm yết ở mức 26.058 VND/USD ở chiều mua vào, 26.088 VND/USD đối với giao dịch chuyển khoản và 26.388 VND/USD ở chiều bán ra. Hầu hết các ngân hàng tiếp tục niêm yết tỷ giá sát trần, tăng nhẹ 1 đồng so với phiên liền trước.
Trên thị trường tự do, tỷ giá USD ghi nhận ở mức 26.500 VND/USD chiều mua vào và 26.550 VND/USD chiều bán ra. So với phiên ngày 16/1/2026, tỷ giá tự do tăng mạnh 250 đồng ở cả hai chiều giao dịch.
Trong tuần trước (từ ngày 12/1 đến 16/1), tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng diễn biến theo xu hướng tăng - giảm đan xen. Kết thúc phiên giao dịch ngày 16/1, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 26.276 VND/USD, tăng nhẹ 7 đồng so với cuối tuần trước đó.
Trái ngược với diễn biến trên, tỷ giá USD trên thị trường tự do trong tuần qua lại giảm sâu qua các phiên. Chốt ngày 16/1, tỷ giá tự do ở mức 26.250 VND/USD chiều mua vào và 26.300 VND/USD chiều bán ra, tương ứng giảm 510 đồng và 520 đồng chỉ trong một tuần, xuống mức thấp nhất kể từ tháng 6/2025.
Về lãi suất, trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất VND tăng mạnh trong hầu hết các phiên và tại tất cả các kỳ hạn từ một tháng trở xuống so với thời điểm ngày 9/1, dù vẫn duy trì ở vùng thấp. Tính đến cuối ngày 16/1, lãi suất qua đêm ở mức 3,8%/năm, tăng 0,8 điểm phần trăm; kỳ hạn một tuần đạt 4,6%/năm (+0,65 điểm phần trăm); kỳ hạn hai tuần 5,5%/năm (+0,7 điểm phần trăm) và kỳ hạn một tháng ở mức 6,55%/năm, tăng 0,25 điểm phần trăm.
Trong khi đó, lãi suất USD liên ngân hàng biến động nhẹ theo chiều hướng tăng - giảm đan xen. Cụ thể, lãi suất qua đêm ở mức 3,65%/năm (giảm 0,03 điểm phần trăm); kỳ hạn một tuần 3,7%/năm (giảm 0,04 điểm phần trăm); kỳ hạn hai tuần 3,74%/năm (giảm 0,02 điểm phần trăm); riêng kỳ hạn một tháng tăng nhẹ 0,02 điểm phần trăm lên 3,84%/năm.
Trên thị trường mở, trong giai đoạn từ ngày 12/1 đến 16/1, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 18.000 tỷ đồng qua kênh cầm cố với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, 56 ngày và 91 ngày, duy trì mức lãi suất 4,5%/năm. Tổng khối lượng trúng thầu đạt 16.416,6 tỷ đồng, trong khi lượng vốn đáo hạn lên tới 46.315,23 tỷ đồng. Trong tuần, Ngân hàng Nhà nước không thực hiện chào thầu tín phiếu. Tính chung, cơ quan điều hành đã hút ròng 29.898,63 tỷ đồng khỏi hệ thống. Đến cuối tuần, tổng dư nợ trên kênh cầm cố đạt 315.048,49 tỷ đồng.
Trên thị trường trái phiếu Chính phủ, tại phiên đấu thầu ngày 14/1, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 1.850 tỷ đồng trên tổng khối lượng gọi thầu 12.500 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ trúng thầu đạt 14,8%.
Trong đó, kỳ hạn 10 năm ghi nhận khối lượng trúng thầu 1.700 tỷ đồng trên tổng mức chào thầu 10.000 tỷ đồng, với lãi suất giữ nguyên ở mức 4,0%/năm. Kỳ hạn 15 năm trúng thầu 150 tỷ đồng trên 1.000 tỷ đồng gọi thầu, lãi suất tăng nhẹ 0,25 điểm cơ bản lên 4,1%/năm. Hai kỳ hạn 5 năm và 30 năm, dù được chào thầu lần lượt 1.000 tỷ đồng và 500 tỷ đồng, song không ghi nhận khối lượng trúng thầu.
Theo kế hoạch, ngày 21/1 tới, Kho bạc Nhà nước dự kiến tổ chức đấu thầu 15.500 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, gồm: 1.000 tỷ đồng kỳ hạn 5 năm, 500 tỷ đồng kỳ hạn 7 năm, 12.000 tỷ đồng kỳ hạn 10 năm, 1.000 tỷ đồng kỳ hạn 15 năm, 500 tỷ đồng kỳ hạn 20 năm và 500 tỷ đồng kỳ hạn 30 năm.
Trên thị trường thứ cấp, giá trị giao dịch bình quân đạt 15.127 tỷ đồng mỗi phiên, giảm nhẹ so với mức 15.760 tỷ đồng/phiên của tuần trước. Lợi suất trái phiếu Chính phủ trong tuần ghi nhận sự phân hóa rõ nét giữa các kỳ hạn. Tính đến phiên cuối tuần ngày 16/1, lợi suất kỳ hạn 1 năm ở mức 3%/năm (giảm 0,05 điểm phần trăm); kỳ hạn 2 năm 3,10%/năm (giảm 0,01 điểm phần trăm); kỳ hạn 3 năm 3,15%/năm (tăng nhẹ 0,002 điểm phần trăm); kỳ hạn 5 năm 3,60%/năm (tăng 0,06 điểm phần trăm); kỳ hạn 7 năm 3,68%/năm (tăng 0,05 điểm phần trăm); kỳ hạn 10 năm 4,14%/năm (giảm 0,01 điểm phần trăm); kỳ hạn 15 năm 4,25%/năm (tăng 0,01 điểm phần trăm) và kỳ hạn 30 năm đạt 4,35%/năm (tăng 0,04 điểm phần trăm).
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

