Theo Cục Thống kê, trong tháng 3/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 18,8% so với tháng trước và tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 4,6%; khai khoáng tăng 2,6%.
Tính chung quý I/2026, ngoài ngành chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ lực, các ngành còn lại cũng ghi nhận mức tăng 9,7%. Ngành khai khoáng tăng 4,7%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 7,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Ở cấp độ ngành công nghiệp trọng điểm cấp II, nhiều lĩnh vực ghi nhận mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất kim loại tăng 22,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 19,7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 18,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,7%; sản xuất đồ uống tăng 14,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,9%; chế biến thực phẩm tăng 12,0%.
Các ngành dệt, sản xuất trang phục, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, cũng như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học đều ghi nhận mức tăng từ 8,3% đến 8,6%. Bên cạnh đó, ngành chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 7,3%.
Ở chiều ngược lại, một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm, như sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn chỉ tăng 3,1%; khai thác than cứng và than non giảm 4,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 0,9%.
Xét theo địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 tăng ở cả 34 địa phương có hoạt động công nghiệp trọng điểm, trong đó nhiều địa phương đạt mức tăng khá nhờ sự phục hồi của ngành chế biến, chế tạo và sản xuất điện. Tuy nhiên, một số địa phương có mức tăng thấp do các ngành chủ lực như khai khoáng, chế biến, chế tạo hoặc sản xuất điện tăng chậm hoặc suy giảm.
Về sản phẩm công nghiệp chủ lực, nhiều mặt hàng ghi nhận mức tăng cao trong quý I/2026. Sản lượng xe máy tăng 31,6%; thủy hải sản chế biến tăng 23,4%; thép thanh, thép góc tăng 21,1%; thép cán tăng 20,3%; sơn hóa học tăng 19,2%; ô tô tăng 18,5%; sữa bột tăng 14,5%; sắt thép thô tăng 14,3%. Ngược lại, một số sản phẩm giảm như phân urê giảm 9,6%; điện thoại di động giảm 6,6%; phân NPK giảm 5,4%; than sạch giảm 4,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 3,5%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2026 tăng 14,7% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I, chỉ số tiêu thụ tăng 9,5%, cao hơn mức tăng 5,4% của cùng kỳ năm 2025.
Chỉ số tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/3/2026 tăng 8,5% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng thời điểm năm trước. Tuy nhiên, tỷ lệ tồn kho bình quân quý I/2026 ở mức 84,8%, thấp hơn so với mức 90,0% của cùng kỳ năm 2025, cho thấy áp lực tồn kho đã phần nào được cải thiện.
Về lao động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2026 tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước tăng 1,1% so với tháng trước nhưng giảm 0,4% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng nhẹ 0,2% theo tháng nhưng giảm 0,2% theo năm.
Theo ngành hoạt động, lao động trong ngành chế biến, chế tạo tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,4% và tăng 3,3%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 0,1% và tăng 2,6%; trong khi ngành khai khoáng không đổi so với tháng trước và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
