Sản xuất công nghiệp phục hồi mạnh, chỉ số IIP quý I đạt đỉnh kể từ năm 2020

Hoạt động sản xuất công nghiệp trong quý I/2026 tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi tích cực với chỉ số sản xuất toàn ngành (IIP) ước tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,3% của cùng kỳ năm 2025 và là mức cao nhất của quý I kể từ năm 2020 đến nay. Động lực chính vẫn đến từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 9,7%, đóng góp 7,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Theo Cục Thống kê, trong tháng 3/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 18,8% so với tháng trước và tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 4,6%; khai khoáng tăng 2,6%.

Tính chung quý I/2026, ngoài ngành chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ lực, các ngành còn lại cũng ghi nhận mức tăng 9,7%. Ngành khai khoáng tăng 4,7%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 7,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Sản xuất công nghiệp khởi sắc

Ở cấp độ ngành công nghiệp trọng điểm cấp II, nhiều lĩnh vực ghi nhận mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất kim loại tăng 22,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 19,7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 18,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,7%; sản xuất đồ uống tăng 14,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,9%; chế biến thực phẩm tăng 12,0%.

Các ngành dệt, sản xuất trang phục, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, cũng như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học đều ghi nhận mức tăng từ 8,3% đến 8,6%. Bên cạnh đó, ngành chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 7,3%.

Ở chiều ngược lại, một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm, như sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn chỉ tăng 3,1%; khai thác than cứng và than non giảm 4,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 0,9%.

Xét theo địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 tăng ở cả 34 địa phương có hoạt động công nghiệp trọng điểm, trong đó nhiều địa phương đạt mức tăng khá nhờ sự phục hồi của ngành chế biến, chế tạo và sản xuất điện. Tuy nhiên, một số địa phương có mức tăng thấp do các ngành chủ lực như khai khoáng, chế biến, chế tạo hoặc sản xuất điện tăng chậm hoặc suy giảm.

Về sản phẩm công nghiệp chủ lực, nhiều mặt hàng ghi nhận mức tăng cao trong quý I/2026. Sản lượng xe máy tăng 31,6%; thủy hải sản chế biến tăng 23,4%; thép thanh, thép góc tăng 21,1%; thép cán tăng 20,3%; sơn hóa học tăng 19,2%; ô tô tăng 18,5%; sữa bột tăng 14,5%; sắt thép thô tăng 14,3%. Ngược lại, một số sản phẩm giảm như phân urê giảm 9,6%; điện thoại di động giảm 6,6%; phân NPK giảm 5,4%; than sạch giảm 4,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 3,5%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2026 tăng 14,7% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I, chỉ số tiêu thụ tăng 9,5%, cao hơn mức tăng 5,4% của cùng kỳ năm 2025.

Chỉ số tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/3/2026 tăng 8,5% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng thời điểm năm trước. Tuy nhiên, tỷ lệ tồn kho bình quân quý I/2026 ở mức 84,8%, thấp hơn so với mức 90,0% của cùng kỳ năm 2025, cho thấy áp lực tồn kho đã phần nào được cải thiện.

Về lao động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2026 tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước tăng 1,1% so với tháng trước nhưng giảm 0,4% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng nhẹ 0,2% theo tháng nhưng giảm 0,2% theo năm.

Theo ngành hoạt động, lao động trong ngành chế biến, chế tạo tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,4% và tăng 3,3%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 0,1% và tăng 2,6%; trong khi ngành khai khoáng không đổi so với tháng trước và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước.

Tin khác
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ

Từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống và các hộ kinh doanh nhỏ, thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước trở thành phương thức giao dịch quen thuộc tại TP Hồ Chí Minh. Cùng với sự chuyển dịch này, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thanh toán số phát triển rộng khắp.

Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc