Đa dạng hóa các kênh dẫn vốn trở thành yêu cầu cấp thiết cho mục tiêu tăng trưởng

Theo các chuyên gia mục tiêu duy trì mức tăng trưởng hai con số từ nay đến năm 2045 là một thách thức lớn. Để hiện thực hóa con số này, nhu cầu nguồn vốn trong giai đoạn 20 năm tới sẽ rất cao.

2026-2030 là giai đoạn tăng tốc trong đầu tư

Năm 2026, trên đà tăng trưởng cao của 2025, nền kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi và hội nhập sâu rộng, với mục tiêu chiến lược đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hai con số trong giai đoạn 2026-2030, hướng tới trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 như Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Tuy nhiên, bối cảnh vĩ mô toàn cầu đang có biến động phức tạp: xung đột địa chính trị, áp lực lạm phát, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng đặt ra những thách thức cấp bách.

Trong nước, với tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đặt mục tiêu 15%, thanh khoản hệ thống ngân hàng còn áp lực sau năm mở rộng dư nợ, chênh lệch lãi suất USD-VND..., theo đó việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn còn nhiều rào cản với mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng cao.

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9/2026 mang đến những kỳ vọng lớn, song xu hướng vốn ngoại rút ròng vẫn kìm hãm các kế hoạch huy động vốn và chào bán cổ phần ra công chúng của doanh nghiệp; đồng thời thách thức mục tiêu đưa vốn hóa thị trường đạt 100% GDP trong năm 2026.

Ở kênh trái phiếu doanh nghiệp, dù niềm tin nhà đầu tư đã dần phục hồi nhờ các biện pháp siết chặt kỷ luật thị trường, nhưng áp lực đáo hạn trên 200.000 tỷ đồng trong năm 2026 cũng đặt ra bài toán thanh khoản lớn, có thể hạn chế cơ hội phát hành mới với các tổ chức phát hành.

Ngay trong bối cảnh đó, năm 2026 cũng chứng kiến một bước chuyển chiến lược quan trọng khi Việt Nam chính thức khởi động xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và tại Đà Nẵng theo chủ trương của Bộ Chính trị, kỳ vọng sẽ là điểm đến phân phối dòng vốn của Việt Nam và khu vực. Song đến nay vẫn đang chờ các quy chế để có thể đi vào giải ngân...

Tại Diễn đàn tài chính 2026: "Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh", tổ chức mới đây, Phó Chủ tịch VCCI Hoàng Quang Phòng nhấn mạnh 2026-2030 là giai đoạn chúng ta tăng tốc trong đầu tư, hoàn thiện bệ phóng cho nền kinh tế. Để đầu tư cho các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu và hạ tầng bền vững tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu vĩ mô của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), ước tính nhu cầu vốn đầu tư là khoảng 15-17 tỷ USD mỗi năm.

Trong đó, ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được khoảng 30 - 35% nhu cầu này. Các nhà nghiên cứu vĩ mô của World Bank cũng chỉ ra nguồn lực cho mục tiêu đầu tư này, cần đồng thời tăng cường huy động sự tham gia của khu vực tư nhân.

Đa dạng hóa các kênh dẫn vốn trở thành yêu cầu cấp thiết cho mục tiêu tăng trưởng
2026-2030 là giai đoạn chúng ta tăng tốc trong đầu tư, hoàn thiện bệ phóng cho nền kinh tế

Bên cạnh nhu cầu vốn hạ tầng, ông cho rằng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ tại Việt Nam cũng đang đối diện khoảng trống tín dụng lớn, với khoảng thiếu hụt tài chính hàng năm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ lên tới hàng tỷ USD và một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp có nhu cầu chưa được đáp ứng.

Phó Chủ tịch VCCI cho biết, việc tìm ra lời giải cho bài toán đầy thách thức, tháo gỡ điểm nghẽn vốn, đây không chỉ là tiếp động lực cho từng doanh nghiệp, mà là đòn bẩy cho cả nền kinh tế trong giai đoạn 2026-2030. Đó chính là lý do VCCI quyết định chỉ đạo Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức Diễn đàn "Khơi thông nguồn vốn, kết nối đa kênh.

Hệ sinh thái vốn đa tầng sẽ trở thành điểm tựa vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng

PGS. TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu duy trì mức tăng trưởng hai con số từ nay đến năm 2045 là một thách thức lớn. Để hiện thực hóa con số này, nhu cầu nguồn vốn trong giai đoạn 20 năm tới sẽ rất cao.

Hiện tại, hệ thống ngân hàng nội địa đang gánh vác phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế, dẫn đến tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức đáng báo động. Ông Huân dẫn chứng cảnh báo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về những rủi ro tiềm ẩn khi nền kinh tế quá phụ thuộc vào kênh tín dụng ngân hàng.

Trước thực trạng đó, việc đa dạng hóa các kênh dẫn vốn trở thành yêu cầu cấp thiết. Ông Nguyễn Hữu Huân xác định hai trụ cột chính để giảm tải cho hệ thống ngân hàng là thị trường vốn và Trung tâm Tài chính quốc tế (VIFC). VIFC được kỳ vọng sẽ trở thành cửa ngõ thu hút dòng vốn quốc tế, tạo ra một hệ sinh thái tài chính đa tầng thay vì chỉ dựa vào các công cụ truyền thống.

Một trong những hướng đi đầy triển vọng là đánh chiếm thị trường tài chính hàng hải quốc tế, nơi có quy mô giao dịch lên đến hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm. Hiện nay, 80-90% giao dịch của các cảng biển Việt Nam đang được thực hiện tại Singapore và Hồng Kông.

Theo TS. Nguyễn Hữu Huân, VIFC – HCM đặt mục tiêu thu hút khoảng 30% lượng giao dịch này (tương đương 300 tỷ USD/năm) về Việt Nam thông qua các cơ chế pháp lý đặc thù như sử dụng Thông luật và cho phép luân chuyển dòng vốn tự do hơn.  Các dịch vụ như cho thuê tài chính, bảo hiểm hàng hải, tái bảo hiểm và thanh toán xuyên biên giới sẽ được tập trung phát triển để gia tăng giá trị cho chuỗi cung ứng.

TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright khẳng định, hệ sinh thái vốn đa tầng sẽ trở thành điểm tựa vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng 2026 - 2030.

Ông Tuấn nhấn mạnh, nền kinh tế Việt Nam kết thúc năm 2025 với mức tăng trưởng 8,02%, dựa trên quy mô vốn đầu tư xã hội chiếm 32,3% GDP. Mục tiêu tăng trưởng cho 5 năm tới đã được đẩy lên mức 10%. Ông lưu ý đây là con số tăng trưởng theo giá cố định. Nếu tính cả yếu tố lạm phát dự kiến 4,5% mỗi năm, mức tăng trưởng theo giá hiện hành phải đạt 14,95%.

TS Đỗ Thiên Anh Tuấn cho biết, 4 tháng đầu năm 2026, lạm phát đã chạm mức 5,46% so với cùng kỳ. Áp lực lạm phát hiện hữu từ cả hai phía: tổng cầu tăng cao do mục tiêu tăng trưởng và chi phí đẩy từ giá năng lượng cùng căng thẳng địa chính trị. Do đó, ông tính toán nền kinh tế cần tới 40 triệu tỷ đồng vốn đầu tư nếu giả định lạm phát ở mức 4,5%.

Tuy vậy, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn chỉ ra là năng suất biên của vốn đang có xu hướng giảm dần. Điều này đồng nghĩa với việc để tạo ra thêm một đồng tăng trưởng, nền kinh tế phải đổ vào nhiều vốn hơn so với giai đoạn trước. Hiện tại, hệ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam đang nằm trong khoảng 5 đến 6, mức được đánh giá là kém hiệu quả.

Chính phủ đang nỗ lực đưa hệ số ICOR về mức 4,5 đến 4,8 trong giai đoạn tới theo Nghị quyết 25/2026/QH16 của Quốc hội. Thậm chí, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn nhắc lại yêu cầu của Tổng Bí thư về việc phải đưa chỉ số này về mức 4. Tuy nhiên, ông đánh giá việc kéo giảm ICOR từ mức 6 về 4 là một thách thức rất khó khăn. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, Việt Nam đang thực hiện đồng thời hai giải pháp: vừa nâng tỷ trọng vốn đầu tư xã hội từ 32,3% lên tối thiểu 40% GDP, vừa nỗ lực cải thiện hiệu quả sử dụng số vốn đó.

Theo ông, trong tổng số 40 triệu tỷ đồng vốn cần huy động, cơ cấu nguồn vốn sẽ phải thay đổi mạnh mẽ theo định hướng giảm dần sự hiện diện của đầu tư công. Hiện tại, khu vực kinh tế nhà nước đang chiếm 26-27% tổng vốn đầu tư xã hội. Mục tiêu trong 5 năm tới là kéo tỷ lệ này xuống còn 20-22%. Khoảng trống 5-6% này buộc phải được lấp đầy bởi khu vực FDI hoặc kinh tế tư nhân.

Tin khác
Giao dịch logistics “lai” đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu và chứng từ
Giao dịch logistics “lai” đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu và chứng từ

Chuyển đổi số đang thúc đẩy ngành logistics nhưng mô hình kết hợp giữa chứng từ giấy và giao dịch điện tử cũng làm gia tăng rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp cần kiểm soát dữ liệu, xác thực chứng từ và xác lập rõ thứ tự ưu tiên để hạn chế tranh chấp.

TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet
TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet

TP Hồ Chí Minh đang nghiên cứu phát triển các mô hình outlet quy mô lớn, kết hợp mua sắm, dịch vụ, giải trí và du lịch, nhằm tăng sức hút điểm đến và nâng mức chi tiêu của du khách.

FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế
FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế

Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh khi sản xuất, hạ tầng và vị trí trong chuỗi cung ứng khu vực ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế, lợi thế về chi phí, thị trường và vị trí địa lý đang phải đi cùng một yêu cầu ngày càng rõ: rút ngắn khoảng cách từ quyết định đầu tư đến khi dự án có thể vận hành thực tế.

Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh
Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh

Xuất khẩu dệt may 7 tháng đầu năm 2026 đạt 27,02 tỷ USD, tăng 2,67% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, hàng may mặc chỉ tăng 0,70%, thấp hơn nhiều so với xơ sợi, vải và phụ liệu. Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh bằng giá, chất lượng và tiến độ giao hàng, mà còn cần kiểm soát tốt nguyên liệu, năng lượng, phát thải và truy xuất nguồn gốc.

Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế
Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế

Theo Savills Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn quốc tế ngày càng lớn, lợi thế của Việt Nam không chỉ nằm ở nền tảng sản xuất hay vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực. Hạ tầng ngày càng hoàn thiện, môi trường pháp lý minh bạch và khả năng đưa dự án vào vận hành hiệu quả đang trở thành những yếu tố quan trọng để chuyển hóa tăng trưởng thành dòng vốn đầu tư dài hạn.

An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí
An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí

Giá dầu neo ở mức cao, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng cùng loạt dự án khai thác, khí - LNG và lọc hóa dầu đang mở ra chu kỳ đầu tư mới cho ngành dầu khí Việt Nam. Dòng vốn được kỳ vọng lan tỏa trên toàn chuỗi, từ thượng nguồn đến hạ nguồn, trong bối cảnh nguồn cung trong nước chịu áp lực suy giảm và nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng.

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế
Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 đề xuất chuyển mạnh sang cơ chế giá thị trường, đồng thời siết điều kiện đối với thương nhân đầu mối và tinh gọn hệ thống phân phối.

Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm
Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm

Việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đang được đặt ra nhằm giảm chi phí tuân thủ, tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi các lớp tiền kiểm được thu hẹp, yêu cầu về hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc và chế tài xử lý phải được nâng lên để tránh tạo khoảng trống quản lý, đặc biệt với những sản phẩm tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc