Xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững
Chiều 09/4, theo chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, Quốc hội nghe Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng trình bày Tờ trình về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) 05 năm 2026-2030.
Báo cáo trước Quốc hội và cử tri cả nước, Chính phủ khẳng định dù trải qua giai đoạn đầy thách thức với dịch bệnh COVID-19 kéo dài và biến động kinh tế thế giới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng và nổi bật. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã giúp nước ta hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra: đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2021-2025, trong đó năm 2024, 2025 hoàn thành toàn bộ 15/15 chỉ tiêu. Năm 2025, quy mô GDP đạt 514,4 tỷ USD, gấp 1,48 lần năm 2020; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020; an sinh xã hội được đảm bảo.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, Chính phủ nhận định tình hình thế giới sẽ tiếp tục biến động nhanh, mạnh và khó lường. Để hiện thực hóa mục tiêu, tầm nhìn phát triển, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Chính phủ xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước, phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân 05 năm 2026-2030 từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 8.500 USD, gấp 1,7 lần năm 2025; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; nâng cao mọi mặt đời sống của Nhân dân, để Nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của phát triển.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn và với quyết tâm cao, Chính phủ trình Quốc hội 05 quan điểm chỉ đạo, điều hành, 59 chỉ tiêu chủ yếu, 11 nhóm giải pháp trọng tâm trong giai đoạn 2026-2030 và 92 nhiệm vụ cần thực hiện ngay trong năm 2026.
Trong đó, Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng, xác lập mô hình tăng trưởng mới; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật; tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn, hoàn thiện thể chế, pháp luật để phát triển nền kinh tế số, đầu tư kinh doanh.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới. Thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, phát triển mạnh các mô hình kinh tế mới, khai thác không gian phát triển mới. Hiện đại hoá nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với triển khai hiệu quả các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng; mở rộng, đa dạng hóa thị trường, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng chiến lược của các nước lớn.
Thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế; khơi thông và đa dạng hoá các chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn.
Tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hoàn thiện thể chế, pháp luật, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng, làm chủ các công nghệ nền tảng, công nghệ chiến lược, công nghệ số…
Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.
Hiện đại hoá nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là trong các ngành nghề kỹ thuật, công nghệ và phục vụ các chương trình, dự án chiến lược, trọng điểm.
Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hoá và phát triển đô thị, liên kết vùng. Tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị; đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc.
Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng hiện đại, hội nhập, bao phủ toàn bộ lực lượng lao động. Phát triển thị trường lao động linh hoạt, đồng bộ, hiện đại và hội nhập…
Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản quan trọng, nhất là tài nguyên biển, đất hiếm. Xử lý cơ bản ô nhiễm không khí, ngập úng, tắc nghẽn giao thông tại một số đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh.
Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá. Chú trọng phân tích, đánh giá, dự báo tình hình quốc tế, đề xuất các kịch bản ứng phó kịp thời, chủ động.
Thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi, xác định tăng trưởng “2 con số” là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, củng cố niềm tin, khát vọng phát triển của toàn xã hội.
Khó khăn, thách thức trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 là rất lớn
Riêng năm 2026 được xác định là năm bản lề với 92 nhiệm vụ cụ thể. Chính phủ nhấn mạnh các ưu tiên: công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật; cắt giảm tối thiểu 50% chi phí, thời gian tuân thủ thủ tục hành chính của năm 2026 so với năm 2024; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, khai thác các động lực phát triển mới; tháo gỡ các dự án tồn đọng; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Báo cáo thẩm tra về tình hình, kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021 - 2025, dự kiến Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2026 – 2030, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi khẳng định dù gặp nhiều khó khăn và biến động, nhưng giai đoạn 5 năm 2021 - 2025 đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu, tăng trưởng bình quân khoảng 6,2%, các năm cuối cải thiện rõ rệt.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính lưu ý, khó khăn, thách thức trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 là rất lớn, gay gắt hơn giai đoạn trước, điều này đòi hỏi việc xây dựng và triển khai Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2026 - 2030 phải được đặt trong bối cảnh mới, với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản thống nhất với các quan điểm, mục tiêu tổng quát, chỉ tiêu chủ yếu và 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Báo cáo của Chính phủ. Một số ý kiến đề nghị lưu ý áp lực lớn đối với cân đối ngân sách, huy động và sử dụng vốn đầu tư trong bối cảnh nhu cầu nguồn lực rất cao cho tăng trưởng.
Việc xây dựng và tổ chức thực hiện Kế hoạch KTXH giai đoạn 2026 - 2030 cần kiên định nguyên tắc tăng trưởng thực chất, giữ vững ổn định vĩ mô, sử dụng hiệu quả nguồn lực và gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội; bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, rõ thứ tự ưu tiên, gắn với nguồn lực, lộ trình thực hiện, tạo chuyển biến rõ nét ngay từ đầu giai đoạn 2026 - 2030.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhấn mạnh nâng cao năng lực điều hành và tổ chức thực thi là khâu then chốt, quyết định hiệu quả chính sách. Thực tiễn cho thấy nhiều hạn chế không nằm ở thiếu cơ chế mà ở khâu điều hành, triển khai thực hiện. Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cần làm rõ cơ chế phân công, phối hợp, kiểm tra, giám sát; tăng cường kỷ luật, làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, bảo đảm thực thi minh bạch, hiệu quả, đúng mục tiêu.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
