Nợ xấu vẫn là bài toán lớn
Tại cuộc làm việc sáng 13/8 với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và hệ thống các tổ chức tín dụng, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu đánh giá tình hình điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng trong 7 tháng đầu năm và xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới. Theo NHNN, công tác kiểm soát và xử lý nợ xấu tiếp tục được triển khai đồng bộ, trong đó các tổ chức tín dụng được yêu cầu xây dựng phương án cơ cấu lại, tăng cường kiểm soát và hạn chế nợ xấu phát sinh, đồng thời đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra việc phân loại nợ, trích lập dự phòng và cấp tín dụng.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn hệ thống đã xử lý 141.400 tỷ đồng nợ xấu, giảm 17,5% so với cùng kỳ năm trước. Một phần đáng kể được xử lý bằng dự phòng rủi ro, với khoảng 98.020 tỷ đồng, chiếm 62,2% tổng nợ xấu được xử lý và tăng 1,91% so với cùng kỳ. NHNN đồng thời cho biết, mặc dù tỷ lệ nợ xấu nội bảng có xu hướng giảm nhưng số dư nợ xấu vẫn gia tăng.
Đến cuối tháng 6/2026, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống tổ chức tín dụng ở mức 3,31%, giảm so với mức 3,44% cuối năm 2025. Nếu không bao gồm 5 ngân hàng kiểm soát đặc biệt, tỷ lệ này còn 1,51%. Khi tính cả nợ xấu nội bảng, nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) chưa được xử lý, thu hồi và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu, tỷ lệ ở mức 3,77%, thấp hơn mức 3,97% cuối năm 2025. Không bao gồm 5 ngân hàng kiểm soát đặc biệt, tỷ lệ tương ứng là 1,7%.
Tuy nhiên, diễn biến tại nhóm ngân hàng được SSI Research theo dõi cho thấy áp lực đối với chất lượng tài sản vẫn hiện hữu. Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết và đăng ký giao dịch cho thấy tổng nợ xấu nhóm 3-5 đến cuối quý II/2026 đạt hơn 310.000 tỷ đồng, tăng khoảng 21,4% từ đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tăng từ 1,88% trong quý I lên 1,97% trong quý II, trong khi nợ nhóm 2 cũng tăng từ 1,30% lên 1,45%.
Trong nhóm ngân hàng được thống kê, Sacombank có quy mô nợ xấu lớn nhất với gần 48.000 tỷ đồng, tăng 19% so với cuối năm 2025; tiếp theo là BIDV với hơn 45.700 tỷ đồng, tăng 31%, VPBank hơn 38.000 tỷ đồng, tăng 21%, và VietinBank hơn 25.000 tỷ đồng, tăng 14%. Xét về tốc độ tăng, ABBank ghi nhận mức tăng nợ xấu 62%, TPBank tăng 59%, HDBank tăng 38%, trong khi BIDV, PGBank và MB lần lượt tăng 31%, 30% và 27%.
Ở chiều ngược lại, VietBank giảm 27% và Nam A Bank giảm 24% quy mô nợ xấu so với cuối năm 2025. Sự phân hóa cũng thể hiện rõ ở tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay. Sacombank ở mức 7,54%, NCB 6,43%, OCB 3,64%, BVBank 3,30% và VPBank 3,28%. Trong khi đó, Vietcombank duy trì tỷ lệ 0,61%, ACB 1,03%, Techcombank 1,08%, Bac A Bank 1,13% và VietinBank 1,20%.
'Lá chắn' dự phòng chịu sức ép
Cùng với quy mô nợ xấu tăng, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tại nhiều ngân hàng có xu hướng giảm. Theo SSI Research, tỷ lệ bao phủ nợ xấu bình quân giảm từ khoảng 95% trong quý II/2025 xuống 86% trong quý I và còn khoảng 83% trong quý II/2026.
Một số thống kê khác từ Wigroup cho thấy tỷ lệ này giảm còn khoảng 79% vào cuối quý II. Diễn biến này đi kèm sự phân hóa đáng kể giữa các ngân hàng. Vietcombank tiếp tục duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức cao, khoảng 279%, trong khi VietinBank đạt 134%, Techcombank 126% và ACB 105%. Ở chiều ngược lại, tỷ lệ bao phủ tại NCB chỉ khoảng 19%; Saigonbank 36%; BVBank và PGBank cùng 43%; VIB 44%; HDBank 50%; MSB 52%; VPBank và Sacombank cùng 57%.
Một số ngân hàng cũng ghi nhận tỷ lệ bao phủ giảm đáng kể so với cùng kỳ. Eximbank giảm từ 44% xuống 32%, TPBank từ 92% xuống 67%, ABBank từ 120% xuống 87%, BIDV từ 100% xuống 76% và LPBank từ 74% xuống 67%.
Trong quý II, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giảm trích lập dự phòng 26% so với quý trước, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng 33%. Một số ngân hàng có mức tăng chi phí dự phòng mạnh, gồm Sacombank 152%, HDBank 104%, OCB 85% và ACB 55%. Theo VDSC, áp lực trích lập dự phòng là một trong những rủi ro đáng lưu ý đối với lợi nhuận ngân hàng trong nửa cuối năm, đặc biệt tại những ngân hàng có tỷ lệ bao phủ thấp.
Trong bối cảnh đó, xử lý nợ xấu không chỉ phụ thuộc vào khả năng trích lập dự phòng mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng thu hồi nợ và xử lý tài sản bảo đảm. Theo thông tin được đưa ra, trong hơn 6 năm thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14, toàn hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý khoảng 445.000 tỷ đồng nợ xấu; trong đó khách hàng chủ động trả khoảng 161.000 tỷ đồng và xử lý thông qua tài sản bảo đảm khoảng 93.000 tỷ đồng. Chỉ khoảng 10% tài sản bảo đảm được ngân hàng trực tiếp thu giữ và xử lý.
Kinh nghiệm này cho thấy vấn đề xử lý nợ xấu không chỉ nằm ở nguồn lực dự phòng mà còn ở khả năng thực thi quyền xử lý tài sản bảo đảm. Sau khi cơ chế thí điểm của Nghị quyết 42 kết thúc, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để tạo hành lang ổn định cho các tổ chức tín dụng xử lý nợ và tài sản bảo đảm.
NHNN cho biết khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu tiếp tục được hoàn thiện, trong khi VAMC được chỉ đạo nâng cao hiệu quả mua, bán và xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường, phối hợp với các tổ chức tín dụng đẩy mạnh thu hồi nợ và xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ đã mua bằng trái phiếu đặc biệt.
Áp lực vốn và tín dụng lớn trong nửa cuối năm
Bên cạnh chất lượng tài sản, hệ thống ngân hàng còn phải giải quyết bài toán cân đối nguồn vốn trong bối cảnh nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng. NHNN cho biết chênh lệch giữa tốc độ tăng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng đã thu hẹp còn khoảng 2%, thấp hơn mức bình quân 3,8%/năm trong giai đoạn 2021-2025 nhưng vẫn tương đương khoảng 2 triệu tỷ đồng.
Cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn cũng là một vấn đề được NHNN lưu ý khi nguồn vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn, trong khi dư nợ tín dụng trung và dài hạn chiếm 48,5%. Trong khi đó, rà soát sơ bộ nhu cầu vốn đối với các dự án lớn, công trình trọng điểm, đầu tư trực tiếp, đầu tư theo phương thức đối tác công tư và 5 dự án đường sắt đô thị Hà Nội cho thấy nhu cầu vốn tín dụng giai đoạn 2026-2030 khoảng 2,49 triệu tỷ đồng.
Nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng đã được cải thiện sau khi nới một số điều kiện về tiền gửi Kho bạc Nhà nước, nhưng nguồn tiền này có tính biến động lớn. Số dư tiền gửi Kho bạc tại các tổ chức tín dụng dao động từ khoảng 460.000 tỷ đồng ngày 23/2/2026 lên khoảng 743.000 tỷ đồng ngày 24/7/2026, trong khi mức biến động lớn nhất trong một ngày lên tới khoảng 70.000 tỷ đồng. NHNN cho biết tại những thời điểm lượng lớn tiền gửi Kho bạc đến hạn hoặc ngân sách Nhà nước thu thuế vào cuối tháng, cuối quý, nguồn vốn của các tổ chức tín dụng bị ảnh hưởng và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có thể tăng nhanh.
Trong lĩnh vực bất động sản, dư nợ tín dụng đến cuối tháng 6/2026 đạt 5,146 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,5% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế. Dư nợ trung và dài hạn chiếm 94% dư nợ bất động sản, trong khi nợ xấu của lĩnh vực này tăng 10,5%.
Trước những áp lực trên, NHNN cho biết trong những tháng cuối năm sẽ tiếp tục điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, thị trường tiền tệ và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Các tổ chức tín dụng được định hướng tập trung vốn vào sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng và các công trình, dự án trọng điểm có tính khả thi, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Đối với những dự án có nhu cầu vốn lớn, NHNN yêu cầu tăng cường cấp tín dụng hợp vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả cấp tín dụng. Các tổ chức tín dụng cũng được yêu cầu đa dạng hóa sản phẩm, đơn giản hóa thủ tục và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quy trình cấp tín dụng để tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn.
Về lãi suất, NHNN cho biết sẽ tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng kiểm soát mặt bằng lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, vừa bảo đảm khả năng thu hút vốn huy động, vừa duy trì lãi suất cho vay hợp lý. Cơ quan quản lý đồng thời sẽ tăng cường thanh tra, kiểm tra lãi suất huy động và cho vay, xử lý các vi phạm liên quan đến lãi suất và hành vi cạnh tranh huy động vốn không lành mạnh.
Đáng chú ý, việc tuân thủ chỉ đạo giảm mặt bằng lãi suất sẽ được gắn với giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2027. Các tổ chức tín dụng không thực hiện đúng chỉ đạo của NHNN về giảm mặt bằng lãi suất sẽ bị xem xét giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2027.
Như vậy, trong nửa cuối năm 2026, hệ thống ngân hàng đồng thời phải đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng, bảo đảm cân đối nguồn vốn và kiểm soát chất lượng tài sản. Trong khi nợ xấu tại nhiều ngân hàng tăng nhanh hơn tín dụng và tỷ lệ bao phủ có xu hướng giảm, yêu cầu xử lý nợ xấu, củng cố dự phòng và kiểm soát dòng vốn vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro tiếp tục là những nhiệm vụ được đặt ra đối với toàn hệ thống.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
