Việt Nam vẫn duy trì là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư
Tại Tọa đàm “Triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW để thúc đẩy, nâng tầm hợp tác đầu tư toàn diện Việt Nam-EU trong giai đoạn phát triển mới”, chia sẻ về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian qua, Thứ trưởng Cao Anh Tuấn cho biết, trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động phức tạp, khó lường, cơ hội và thách thức đan xen, tuy nhiên, với tầm nhìn và khát vọng phát triển, nỗ lực không mệt mỏi, bằng những quyết sách đúng đắn, ứng phó kịp thời, chắt chiu từng cơ hội, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Trong 8 tháng năm 2026, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực: GDP quý I tăng 7,83% và quý II tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy động lực tăng trưởng được cải thiện rõ nét; Sản xuất công nghiệp tiếp tục là động lực quan trọng, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng trưởng cao; Hoạt động thương mại duy trì sôi động, trong đó xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%, nhập khẩu đạt 395,30 tỷ USD, tăng 35,3%; Khu vực doanh nghiệp tiếp tục có sự gia nhập và quay trở lại thị trường đáng kể, với gần 206,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 8 tháng; Mặt bằng giá được kiểm soát ổn định, CPI bình quân 8 tháng tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản tăng 4,24%.
Việt Nam vẫn duy trì là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trên thế giới với kết quả thu hút FDI tiếp tục đạt tăng trưởng rất tích cực. Trong 8 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đăng ký đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, vốn đăng ký cấp mới đạt 21,71 tỷ USD, tăng 96,8%, vốn đăng ký điều chỉnh đạt khoảng 12,22 tỷ USD, trong khi góp vốn, mua cổ phần đạt 6,70 tỷ USD, tăng 50,1%. Vốn FDI thực hiện đạt khoảng 17,25 tỷ USD, tăng 8,8%, là mức thực hiện cao nhất trong 8 tháng của 5 năm gần đây.
Vốn đầu tư tiếp tục tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao như công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao,.…Đây là minh chứng rõ nét khẳng định niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Trong tiến trình đó, với nền tảng sự tin cậy, chia sẻ, quan hệ hợp tác đầu tư giữa Việt Nam – EU đã không ngừng phát triển và có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Hiệp định Thương mại tự do giữa EU và Việt Nam (EVFTA) tiếp tục là nền tảng thúc đẩy thương mại, đầu tư và kết nối doanh nghiệp hai bên; đồng thời, EU là một trong những đối tác uy tín, tin cậy mà Việt Nam kỳ vọng sẽ đóng góp ngày càng lớn về công nghệ, vốn, quản trị và các mô hình phát triển bền vững.
Đến nay, EU đã có đầu tư tại 30/34 tỉnh thành phố của Việt Nam. Với 2836 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt trên 33,3 tỷ USD, chiếm khoảng 6% tổng vốn FDI toàn quốc. Quy mô dự án bình quân của EU đạt khoảng hơn 11,8 triệu USD/dự án, trong đó tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, sản xuất, phân phối điện,…
Ở chiều ngược lại, đến nay, Việt Nam đã cấp mới 124 dự án đầu tư ra nước ngoài tại các nước thuộc EU, trong đó có 21 lượt điều chỉnh vốn với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 653,8 triệu USD. Những kết quả trên đã khẳng định nền tảng hợp tác vững chắc, ngày càng phát triển tích cực giữa Việt Nam và EU.
Hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả nguồn vốn
Thứ trưởng Cao Anh Tuấn nhận định, bước sang giai đoạn phát triển mới, bối cảnh quốc tế và trong nước đã có nhiều thay đổi sâu sắc. Cạnh tranh chiến lược, sự phát triển đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh cùng sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng và dòng vốn toàn cầu đang đặt ra những yêu cầu mới đối với mô hình phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh đó, phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không thể chỉ dừng lại ở mục tiêu thu hút nhiều hơn nguồn vốn, mà phải hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa của các dòng vốn quốc tế; kết hợp chặt chẽ nguồn lực bên ngoài với nội lực của nền kinh tế để nâng cao năng lực sản xuất, năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây cũng chính là tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, bình đẳng, thuận lợi; thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực quốc tế cho phát triển nhanh, bền vững.
Theo Thứ trưởng Cao Anh Tuấn, Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra yêu cầu mới đối với chính sách thu hút đầu tư: chuyển mạnh từ tư duy “thu hút đầu tư” sang “hợp tác đầu tư và cùng phát triển”; từ chú trọng số lượng, quy mô vốn sang ưu tiên công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nhân lực, hiệu quả sử dụng nguồn lực và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Để Nghị quyết 10 thực sự đi vào cuộc sống, qua đó thúc đẩy, nâng tầm hợp tác đầu tư toàn diện giữa Việt Nam - EU trong giai đoạn phát triển mới, Thứ trưởng gợi mở một số định hướng lớn, quan trọng.
Đối với Phái đoàn EU, Đại sứ quán các nước thành viên và EuroCham, Bộ Tài chính mong muốn các cơ quan ngoại giao, Hiệp hội tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa Chính phủ Việt Nam với các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp EU; tăng cường thông tin, quảng bá về môi trường đầu tư của Việt Nam; chủ động phản ánh những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp để cùng các cơ quan Việt Nam xử lý kịp thời.
Đồng thời, khuyến khích, thúc đẩy các tập đoàn, doanh nghiệp, các Quỹ đầu tư, định chế tài chính lớn, uy tín của EU tăng cường hợp tác, mở rộng đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực EU có thế mạnh như Trung tâm tài chính, công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh, kinh tế số, phát triển hạ tầng, giao thông, phát triển bền vững, chống biến đổi khí hậu, nông nghiệp chất lượng cao, y tế, giáo dục,…
Đối với cộng đồng doanh nghiệp EU, Việt Nam kỳ vọng doanh nghiệp sẽ tiếp tục đầu tư dài hạn, đầu tư vào công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh và đào tạo nguồn nhân lực; tăng cường liên kết hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới phương thức quản trị, qua đó giúp Doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu và hiệu quả hơn trong chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.
Về hội nhập tài chính quốc tế và hợp tác thuế, việc áp dụng các chuẩn mực thuế toàn cầu mới đang đặt ra bài toán lớn đối với các nước đang phát triển trong việc vừa tuân thủ thông lệ quốc tế, vừa duy trì sức hấp dẫn của môi trường đầu tư. Thứ trưởng đề nghị doanh nghiệp tiếp tục đồng hành với Chính phủ Việt Nam trong việc nâng cao tính minh bạch, tuân thủ các quy định về thuế và chia sẻ kinh nghiệm quốc tế trong quản trị thuế, nhất là khi Việt Nam đang triển khai các chuẩn mực thuế toàn cầu mới.
Đồng thời mong muốn các cơ quan ngoại giao, Hiệp hội doanh nghiệp và các doanh nghiệp EU có tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ và đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam trong quá trình làm việc với Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật để Việt Nam xây dựng, hoàn thiện và triển khai hiệu quả các chính sách phù hợp với Thuế tối thiểu toàn cầu, tăng cường minh bạch và trao đổi thông tin thuế.
Dưới góc nhìn của cộng đồng quốc tế, Đại sứ Julien Guerrier - Trưởng Phái đoàn Liên minh Châu Âu (EU) tại Việt Nam nhấn mạnh rằng, trong suốt 35 năm qua, EU và Việt Nam đã kiến tạo nên một mối quan hệ đối tác vô cùng vững mạnh và đa diện. Mối quan hệ này đã vượt ra khỏi giới hạn của sự hợp tác phát triển ban đầu, mở rộng bao trùm sang các lĩnh vực thiết yếu như thương mại, đầu tư, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, giáo dục và an ninh.
Đại sứ nhận định, tiềm năng trong quan hệ đầu tư giữa hai bên vẫn còn dư địa rất lớn, đặc biệt khi Việt Nam đang nỗ lực vươn tới các mục tiêu tham vọng về nâng cao năng suất, phát triển công nghệ và xây dựng nền kinh tế công nghiệp xanh, hiện đại dựa trên nền tảng số. Tuy nhiên, để tận dụng tiềm năng này, việc kết hợp những thế mạnh bổ trợ cần được đặt trong một môi trường đầu tư thật sự minh bạch, có tính dự báo cao, đi kèm với năng lực thực thi chính sách hiệu quả và cơ chế đối thoại cởi mở với cộng đồng doanh nghiệp.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
