Mở room mới chỉ là điều kiện cần
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai một số giải pháp tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa và liên kết vùng. Đến cuối tháng 7/2026, các tập đoàn kinh tế lớn đã đề xuất cơ chế tín dụng cho 35 dự án, với tổng nhu cầu vay khoảng 1,7 triệu tỷ đồng.
Trong đó, 18 dự án của Vingroup, Sun Group và Masterise, có tổng nhu cầu hơn 752.000 tỷ đồng, được hướng dẫn loại trừ dư nợ phát sinh mới khi tính hạn mức tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại. Cùng với việc nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn, điều chỉnh này tạo thêm dư địa tài trợ các dự án có thời gian thu hồi vốn dài.
Tuy nhiên, tháo gỡ hạn mức không đồng nghĩa toàn bộ số vốn đề xuất sẽ lập tức được giải ngân. Quyết định cho vay vẫn phụ thuộc vào năng lực tài chính của chủ đầu tư, tính khả thi, phương án trả nợ, vốn tự có, tài sản bảo đảm và khả năng cân đối vốn của từng ngân hàng.
Chia sẻ với báo chí, Ông Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, cho rằng không nên đánh đồng tổng nhu cầu vốn với lượng tiền được giải ngân tại một thời điểm. Con số hơn 752.000 tỷ đồng chỉ phản ánh quy mô vốn dự kiến huy động trong cả quá trình triển khai. Các dự án lớn phải trải qua nhiều công đoạn, từ hoàn thiện thủ tục, giải phóng mặt bằng đến thi công từng hạng mục, nên vốn vay chỉ được giải ngân theo khối lượng thực tế.
Ngay cả khi khu vực tư nhân tổ chức thi công nhanh, quá trình giải ngân cũng có thể kéo dài khoảng ba năm, thậm chí lâu hơn nếu vướng thủ tục hoặc mặt bằng. “Không thể có chuyện từ nay đến cuối năm giải ngân một lúc hết 752.000 tỷ đồng”, ông Hòe nhấn mạnh.
Một số tổ chức phân tích ước tính khoảng 85% nhu cầu vốn của 18 dự án có thể được giải ngân trong ba năm đầu, bình quân khoảng 210.000 tỷ đồng mỗi năm. Con số này tương đương khoảng 1% tổng dư nợ và có thể đóng góp thêm 0,5–1 điểm phần trăm vào tăng trưởng tín dụng hằng năm giai đoạn 2026–2028, thay vì tạo cú tăng đột biến.
Theo ông Hòe, nếu dư luận hiểu rằng toàn bộ hàng trăm nghìn tỷ đồng sẽ được đưa ngay vào nền kinh tế, thị trường có thể hình thành kỳ vọng sai lệch về cung tiền và lạm phát, dẫn tới tâm lý phòng thủ, dịch chuyển tài sản hoặc điều chỉnh quyết định đầu tư không cần thiết.
Ở chiều tích cực, thêm dư địa tín dụng cho các công trình trọng điểm có thể đẩy nhanh đầu tư, bổ sung năng lực vận tải, logistics, đô thị và sản xuất. Khi được triển khai thực chất, dự án còn tạo đơn hàng cho ngành xây dựng, vật liệu, cơ khí và dịch vụ, qua đó thu hút vốn tư nhân và hỗ trợ tăng trưởng.
Tuy nhiên, room tín dụng chỉ tháo gỡ giới hạn cho vay. Ngân hàng vẫn phải tìm nguồn vốn phù hợp và bảo đảm các tỷ lệ an toàn, nhất là khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, trong khi phần lớn tiền gửi có kỳ hạn ngắn.
Theo Ngân hàng Nhà nước, bình quân giai đoạn 2021–2025, tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động khoảng 3,8 điểm phần trăm. Đến giữa tháng 6/2026, tín dụng tăng khoảng 6,38%, còn huy động tăng khoảng 4,3%, làm gia tăng áp lực cân đối thanh khoản dù khả năng chi trả cho người gửi tiền vẫn được bảo đảm.
Không để mất dấu dòng tiền sau giải ngân
Bên cạnh khả năng thu xếp nguồn vốn, thách thức lớn hơn là kiểm soát tiền vay sau giải ngân, nhất là với những tập đoàn có hệ sinh thái gồm nhiều công ty và hàng trăm dự án.
Ông Phạm Xuân Hòe đặt vấn đề, nếu dự án được hưởng cơ chế tín dụng đặc thù nhưng chưa thể triển khai do vướng giải phóng mặt bằng, ngân hàng và cơ quan quản lý phải có công cụ bảo đảm vốn vay không bị điều chuyển sang dự án khác.
Rủi ro có thể phát sinh khi dòng tiền giữa dự án trọng điểm, công ty mẹ, công ty con, nhà thầu và các pháp nhân liên quan không được tách bạch. Khi đó, cơ chế ưu tiên có thể bị sử dụng cho những hoạt động không thuộc đối tượng chính sách, trong khi ngân hàng khó đánh giá hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án ban đầu.
Một chuyên gia phụ trách nguồn vốn tại ngân hàng thương mại cho rằng mỗi dự án cần có tài khoản riêng, kế hoạch giải ngân theo từng hạng mục và hệ thống báo cáo có khả năng truy vết dòng tiền. Việc giải ngân nên gắn với tiến độ thi công, khối lượng nghiệm thu, hóa đơn và mục đích thanh toán cụ thể.
Có thể tham khảo phương thức giám sát của các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài. Khi mua trái phiếu doanh nghiệp hoặc tài trợ dự án, nhà đầu tư thường yêu cầu bên vay cập nhật định kỳ số tiền đã sử dụng, hạng mục được thanh toán, tiến độ thực hiện và phần vốn còn lại.
Với mức độ số hóa hiện nay, theo dõi dòng tiền gần như theo thời gian thực không phải bài toán quá khó. Vấn đề là khả năng liên thông dữ liệu giữa ngân hàng, doanh nghiệp, nhà thầu và cơ quan quản lý, đồng thời cần có cơ chế kiểm tra độc lập thay vì chỉ dựa vào báo cáo của chủ đầu tư.
Yêu cầu giám sát càng cấp thiết khi nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng nhiều hơn cho các khoản vay trung, dài hạn. Chuyên gia tài chính – ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cảnh báo phần lớn tiền gửi của hệ thống có kỳ hạn ngắn, trong khi các dự án hạ tầng cần thời gian thu hồi vốn dài. Vì vậy, việc mở rộng giới hạn cho vay phải đi kèm báo cáo định kỳ về dư nợ, tỷ lệ an toàn vốn, nợ quá hạn và nợ xấu để phát hiện sớm rủi ro thanh khoản.
TS Châu Đình Linh, giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, cũng cho rằng các ngân hàng phải nâng yêu cầu quản trị tài sản – nguồn vốn khi dùng tiền ngắn hạn tài trợ dự án dài hạn. Giải pháp căn cơ vẫn là phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và tăng bộ đệm vốn cho ngân hàng, thay vì để hệ thống tín dụng gánh phần lớn nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế.
Cùng với giám sát dòng tiền, ngân hàng cần kiểm soát rủi ro tập trung tín dụng. Những dự án quy mô lớn thường vượt khả năng tài trợ của một tổ chức tín dụng, đòi hỏi cơ chế hợp vốn, phân chia rủi ro và thẩm định độc lập. Nếu vốn tập trung quá nhiều vào một khách hàng, nhóm liên quan hoặc một lĩnh vực, khó khăn tại một dự án có thể ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của nhiều ngân hàng.
Do đó, cơ chế tín dụng đặc thù không đồng nghĩa với nới lỏng điều kiện vay hay bảo đảm dự án đương nhiên được cấp vốn. Quyết định cho vay và trách nhiệm thẩm định vẫn thuộc về ngân hàng thương mại; chủ đầu tư phải chứng minh năng lực vốn tự có, hiệu quả dự án và nguồn trả nợ.
Việc tạo thêm dư địa tín dụng có thể tháo gỡ nút thắt vốn cho các dự án trọng điểm. Tuy nhiên, room rộng hơn chưa chắc tạo ra tăng trưởng nếu dự án chậm thủ tục, vốn không được giải ngân hoặc dòng tiền đi sai mục đích.
Hiệu quả cuối cùng không nằm ở tổng số vốn được đề xuất mà ở ba câu hỏi: dự án giải ngân được bao nhiêu, tiền được sử dụng vào hạng mục nào và ai chịu trách nhiệm kiểm soát sau khi vốn rời ngân hàng. Chỉ khi làm rõ những vấn đề này, nguồn tín dụng đặc thù mới thực sự chuyển hóa thành công trình, năng lực sản xuất và động lực tăng trưởng.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
