Lãi suất giảm, “cửa vay” vẫn hẹp với doanh nghiệp nhỏ
Lãi suất cho vay giảm giúp doanh nghiệp bớt áp lực chi phí, nhưng chưa đủ tháo gỡ điểm nghẽn về vốn. Với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó khăn lớn nhất không phải khoản vay đắt hay rẻ, mà là có vượt qua được yêu cầu về hồ sơ, dòng tiền và tài sản bảo đảm để được giải ngân hay không.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, nhiều ngân hàng đang triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp hơn khoảng 0,5-2%/năm so với thông thường. Nguồn vốn tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên và các ngành được xác định là động lực tăng trưởng. Tuy nhiên, mức lãi suất hấp dẫn chỉ có ý nghĩa khi khách hàng đáp ứng được tiêu chuẩn tín dụng.
Chủ một doanh nghiệp chế biến nông sản tại khu vực trung du phía Bắc cho biết lượng đơn hàng đang tăng, doanh nghiệp muốn vay vốn để đầu tư máy móc, mở rộng nhà xưởng nhưng gặp khó khi hoàn thiện hồ sơ. Do phát triển từ mô hình hộ sản xuất, sổ sách, hóa đơn đầu vào và hợp đồng đặt hàng chưa được chuẩn hóa đầy đủ, trong khi tài sản có thể thế chấp không còn nhiều.
Theo chủ doanh nghiệp này, lãi suất dưới 10%/năm vẫn nằm trong khả năng cân đối. Việc giảm thêm 1% có thể giúp tiết kiệm đáng kể chi phí, nhưng điều quan trọng hơn là ngân hàng có chấp nhận đánh giá dựa trên dòng tiền, lịch sử giao dịch và đơn hàng thực tế hay không.
Tình trạng tương tự xảy ra tại một doanh nghiệp sản xuất bao bì ở Hưng Yên. Đại diện doanh nghiệp cho biết đang cần vay khoảng 7 tỷ đồng để mua thêm dây chuyền in, bổ sung nguyên liệu và thực hiện các đơn hàng đã ký cho quý IV.
Tuy nhiên, hồ sơ vay chưa được chấp thuận do nhà xưởng đang thuê, máy móc hiện có đã được dùng làm tài sản bảo đảm cho khoản vay trước, trong khi một số hợp đồng đầu ra chưa đáp ứng yêu cầu chứng minh nguồn trả nợ của ngân hàng. Dù doanh thu bình quân đạt khoảng 2 tỷ đồng mỗi tháng và đã có đơn hàng đến cuối năm, doanh nghiệp vẫn được yêu cầu bổ sung tài sản bảo đảm cùng báo cáo tài chính, hóa đơn đầu vào và chứng từ dòng tiền. Trường hợp này cho thấy có thị trường và đơn hàng chưa đồng nghĩa doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận tín dụng.
Đây là hạn chế phổ biến của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhất là những đơn vị đi lên từ hộ kinh doanh. Hoạt động thực tế có thể vẫn tạo ra doanh thu, đơn hàng và dòng tiền, nhưng dữ liệu chưa được thể hiện theo cách đủ để ngân hàng thẩm định.
Ông Nguyễn Kim Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Kim Nam, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở lãi suất công bố mà ở khả năng giải ngân. Với khoản vay 5 tỷ đồng, mức giảm 1-2%/năm có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm 50-100 triệu đồng tiền lãi. Tuy nhiên, lợi ích này không còn ý nghĩa nếu doanh nghiệp không đáp ứng được điều kiện để tiếp cận khoản vay ban đầu.
Theo ông Hùng, khi nhu cầu vốn tăng, yêu cầu về năng lực tài chính, phương án kinh doanh, dòng tiền trả nợ và tài sản bảo đảm cũng chặt chẽ hơn. Nhiều doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường nhưng hồ sơ chưa đủ chuẩn hoặc thiếu tài sản phù hợp để thế chấp, khiến kế hoạch đầu tư phải trì hoãn.
TS Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, nhìn nhận khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực này vẫn bị hạn chế bởi yêu cầu thế chấp và thủ tục vay vốn. Theo ông, cần chuyển dần từ cách cho vay dựa nặng vào tài sản bảo đảm sang đánh giá dòng tiền, dữ liệu tài chính, lịch sử tín dụng và hiệu quả phương án kinh doanh.
Cùng với đó, các quỹ bảo lãnh tín dụng cần được hoàn thiện để chia sẻ rủi ro với ngân hàng, hỗ trợ doanh nghiệp có phương án khả thi nhưng thiếu tài sản thế chấp. Việc ứng dụng dữ liệu và ngân hàng số cũng có thể rút ngắn thời gian thẩm định, giảm chi phí tiếp cận vốn.
PGS.TS Nguyễn Văn Phương, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng chi phí vốn đang phân hóa rõ rệt. Doanh nghiệp có tài chính tốt, hồ sơ minh bạch và tài sản bảo đảm phù hợp có thể vay với lãi suất khoảng 6-8%/năm. Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ thiếu tài sản hoặc sổ sách chưa chuẩn hóa thường khó được phê duyệt, hoặc phải chịu chi phí vốn cao hơn.
Thực tế cho thấy giảm lãi suất mới chỉ xử lý một phần bài toán. Để tín dụng thực sự đến được doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngân hàng cần mở rộng thẩm định dựa trên dòng tiền và dữ liệu kinh doanh; doanh nghiệp cũng phải chuẩn hóa sổ sách, minh bạch doanh thu và xây dựng phương án trả nợ đủ sức thuyết phục.
Cần linh hoạt phương thức cho vay
Trước phản ánh của doanh nghiệp, một số ngân hàng đã điều chỉnh sản phẩm và quy trình cấp tín dụng theo hướng linh hoạt hơn. Đại diện BVBank cho biết ngay sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng đã triển khai gói tín dụng 2.500 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; đồng thời rút gọn quy trình thẩm định, giảm thủ tục và cung cấp giải pháp quản lý dòng tiền phù hợp.
Nhiều ngân hàng cũng cho biết đã triển khai cho vay tín chấp, thẩm định dựa trên dòng tiền và dữ liệu tài chính thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, để tiếp cận phương thức này, doanh nghiệp phải có doanh thu ổn định, sổ sách minh bạch và dữ liệu đủ tin cậy để chứng minh khả năng trả nợ.
Tại cuộc làm việc giữa Chính phủ với các bộ, ngành, địa phương, ngân hàng và doanh nghiệp ngày 10/8, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhận định khả năng tiếp cận vốn vẫn là điểm nghẽn cần tập trung xử lý. Khó khăn không chỉ nằm ở lãi suất mà còn liên quan đến điều kiện vay, tài sản bảo đảm, thủ tục, phương pháp thẩm định và những vướng mắc về đất đai, đầu tư xây dựng, pháp lý tài sản, thị trường.
Theo Phó Thủ tướng, các tổ chức tín dụng cần thiết kế sản phẩm theo từng ngành, chuỗi giá trị, dòng tiền và mức độ rủi ro, thay vì áp dụng một phương pháp thẩm định cho tất cả doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất, thương mại, xuất khẩu, xây dựng, công nghệ hay nông nghiệp có chu kỳ vốn và nguồn trả nợ khác nhau, đòi hỏi tiêu chí đánh giá phù hợp.
Các ngân hàng cần tăng cường khai thác dữ liệu từ cơ quan thuế, hóa đơn điện tử, tài khoản thanh toán, lịch sử tín dụng và những nguồn hợp pháp khác. Khi dòng tiền và hoạt động kinh doanh được phản ánh đầy đủ, ngân hàng có thêm cơ sở đánh giá sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Tài sản bảo đảm vẫn cần thiết để kiểm soát rủi ro nhưng không nên là yếu tố duy nhất quyết định khả năng vay vốn. “Chúng ta cần chuyển dần từ tư duy doanh nghiệp có tài sản gì để thế chấp sang tư duy doanh nghiệp có phương án kinh doanh, dòng tiền và khả năng trả nợ như thế nào”, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh.
Yêu cầu này đặc biệt có ý nghĩa với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng. Đây là những nhóm có thể sở hữu đơn hàng, công nghệ hoặc thị trường tiềm năng nhưng thiếu tài sản hữu hình đủ giá trị để thế chấp.
Đối với doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt nhưng thiếu vốn tạm thời, ngân hàng cần rút ngắn thời gian xử lý. Với doanh nghiệp gặp khó khăn nhưng vẫn có thị trường và đơn hàng, tổ chức tín dụng cần hỗ trợ xây dựng phương án phục hồi, cơ cấu dòng tiền, khoản vay và hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ.
Chuyển từ cho vay nặng về tài sản thế chấp sang đánh giá dựa trên dòng tiền không có nghĩa hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, mà là thay đổi cách nhận diện rủi ro. Khi phương thức thẩm định sát hơn với đặc điểm ngành nghề và chu kỳ kinh doanh, các gói ưu đãi lãi suất mới có thể chuyển hóa thành nguồn vốn thực sự đi vào sản xuất, kinh doanh.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
