Lãi suất trái phiếu lập đỉnh mới
Trong khi lãi suất tiền gửi của khách hàng cá nhân vẫn duy trì ở mức tương đối thấp, thị trường trái phiếu ngân hàng lại ghi nhận mặt bằng lãi suất cao hiếm thấy. Nhiều tổ chức tín dụng sẵn sàng chấp nhận chi phí vốn từ 8-10%/năm để huy động nguồn vốn trung và dài hạn, tạo nên một bức tranh trái ngược với diễn biến trên thị trường tiền gửi.
Điểm đáng chú ý nhất thuộc về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) khi chỉ trong ba ngày cuối tháng 7 đã liên tiếp phát hành ba lô trái phiếu riêng lẻ với tổng giá trị 3.650 tỷ đồng. Cụ thể, lô STB12606 trị giá 420 tỷ đồng được phát hành ngày 27/7, tiếp đó là lô STB12607 trị giá 2.230 tỷ đồng ngày 30/7 và lô STB12608 quy mô 1.000 tỷ đồng phát hành ngày 31/7.
Điểm gây chú ý là cả ba lô trái phiếu đều áp dụng lãi suất cố định 10%/năm trong suốt thời hạn 6 năm. Đây là một trong những mức lãi suất cao nhất được ghi nhận đối với trái phiếu ngân hàng phát hành từ đầu năm đến nay.
Ba lô trái phiếu này nằm trong kế hoạch phát hành tối đa 20.000 tỷ đồng đã được Sacombank thông qua nhằm bổ sung nguồn vốn trung, dài hạn, nâng cao năng lực tài chính và đáp ứng các yêu cầu về quản trị vốn. Việc chấp nhận mức lãi suất lên tới 10% cho thấy nhu cầu huy động vốn dài hạn của ngân hàng đang ở mức đáng kể, trong bối cảnh tăng trưởng tiền gửi khách hàng trong nửa đầu năm chỉ đạt khoảng 4,8%.
Không chỉ Sacombank, nhiều ngân hàng khác cũng đồng loạt tăng tốc huy động vốn qua kênh trái phiếu. VietABank phát hành thành công 100 tỷ đồng trái phiếu với lãi suất 9%/năm. MB huy động gần 6.000 tỷ đồng thông qua 10 lô trái phiếu, với lãi suất dao động 8,3-8,4%/năm. OCB phát hành thành công 3.000 tỷ đồng, trong đó mức lãi suất cao nhất đạt 8,6%/năm, còn VPBank huy động 1.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn ba năm với lãi suất cố định 8,6%/năm.
Ngay cả nhóm ngân hàng có vốn nhà nước cũng ghi nhận xu hướng tăng lãi suất phát hành. Từ đầu năm đến nay, BIDV đã huy động khoảng 6.675 tỷ đồng trái phiếu với lãi suất 8,2%/năm, trong khi Vietcombank phát hành trái phiếu có lãi suất 7,9%/năm, cao hơn khoảng 3 điểm phần trăm so với một số đợt phát hành vào cuối năm trước.
Theo Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), tính đến thời điểm công bố thông tin ngày 3/8, toàn thị trường có 19 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong tháng 7/2026 với tổng giá trị 12.539 tỷ đồng, trong đó nhóm ngân hàng chiếm hơn 55% tổng giá trị phát hành.
Trong khi đó, thống kê của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) đến ngày công bố thông tin 5/8 cho thấy quy mô phát hành trong tháng 7 đạt 16.689 tỷ đồng qua 25 đợt phát hành. Riêng khối ngân hàng huy động 12.050 tỷ đồng, chiếm khoảng 72,2% tổng giá trị phát hành, qua đó trở lại vị trí dẫn đầu thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
Theo phân tích của VCBS, mặt bằng lãi suất phát hành trái phiếu doanh nghiệp bình quân hiện đã lên khoảng 9,9%/năm. Trong đó, nhóm ngân hàng phổ biến quanh mức 9%/năm, còn nhóm bất động sản ghi nhận mức cao nhất khoảng 12,5%/năm, chủ yếu thuộc các doanh nghiệp trong hệ sinh thái Vingroup.
Đằng sau xu hướng tăng mạnh của lãi suất phát hành là áp lực cân đối nguồn vốn của hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt tốc độ huy động tiền gửi, nhiều tổ chức tín dụng phải mở rộng huy động vốn trung và dài hạn thông qua trái phiếu nhằm cải thiện cơ cấu nguồn vốn và đáp ứng các yêu cầu an toàn hoạt động.
Áp lực cân đối nguồn vốn ngày càng lớn
Theo đánh giá của FiinRatings, nhu cầu huy động vốn của các ngân hàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong nửa cuối năm 2026. Bên cạnh yêu cầu đáp ứng nhu cầu tín dụng và bổ sung nguồn vốn trung, dài hạn, nhiều tổ chức tín dụng còn phải tăng cường vốn cấp 2 nhằm duy trì hệ số an toàn vốn (CAR) theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
FiinRatings cho biết hệ số CAR của nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước hiện mới dao động quanh 10%, chưa cải thiện đáng kể so với yêu cầu về an toàn vốn. Trong bối cảnh đó, nhu cầu phát hành trái phiếu vẫn ở mức lớn. Theo kế hoạch đã công bố, BIDV dự kiến huy động thêm khoảng 41.000 tỷ đồng, VPBank khoảng 30.000 tỷ đồng và Agribank khoảng 15.000 tỷ đồng trong thời gian tới.
Mặc dù trái phiếu do ngân hàng phát hành thường được đánh giá có mức độ an toàn cao hơn so với nhiều nhóm trái phiếu doanh nghiệp khác nhờ chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ, FiinRatings cho rằng áp lực huy động vốn vẫn cần được theo dõi trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng tín dụng đang cao hơn tốc độ huy động tiền gửi.
Theo tổ chức này, một trong những chỉ báo thường xuất hiện tại các ngân hàng từng gặp áp lực về thanh khoản là sự mất cân đối giữa tăng trưởng tổng tài sản, dư nợ cho vay và tiền gửi khách hàng. Nếu tín dụng duy trì tốc độ tăng cao trong khi huy động vốn không theo kịp trong thời gian dài, các ngân hàng sẽ phải gia tăng tỷ trọng các nguồn vốn có tính ổn định thấp hơn, qua đó làm tăng rủi ro tái cấp vốn.
Áp lực về nguồn vốn cũng gia tăng khi khối lượng trái phiếu đến hạn thanh toán trong những tháng cuối năm ở mức lớn. Theo thống kê của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA), từ nay đến hết năm 2026 sẽ có khoảng 106.155 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn, trong đó riêng nhóm ngân hàng chiếm khoảng 20.756 tỷ đồng, tương đương 19,4% tổng giá trị.
Điều này đồng nghĩa nhiều ngân hàng sẽ đồng thời phải cân đối nguồn tiền để thanh toán các lô trái phiếu đến hạn, đồng thời tiếp tục huy động vốn mới nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh và các yêu cầu về an toàn vốn.
Ở góc độ thị trường, các chuyên gia VCBS nhận định khoảng chênh lệch giữa lợi suất cho vay và chi phí huy động vốn qua trái phiếu đang dần thu hẹp. Xu hướng này có thể khiến các ngân hàng cân nhắc kỹ hơn về quy mô, thời điểm và chi phí của các đợt phát hành mới.
Dù vậy, trong bối cảnh nhu cầu bổ sung vốn cấp 2 và đáp ứng nguồn vốn trung, dài hạn vẫn ở mức cao, hoạt động phát hành trái phiếu của ngành ngân hàng được dự báo sẽ tiếp tục duy trì trong thời gian tới.
Nhìn tổng thể, trái phiếu ngân hàng vẫn được xem là một trong những kênh đầu tư có mức độ tín nhiệm cao, thu hút sự quan tâm của các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm và công ty chứng khoán.
Tuy nhiên, mức lãi suất 10%/năm như trường hợp của Sacombank được giới phân tích đánh giá là mang tính cá biệt và phản ánh nhu cầu huy động vốn tại từng thời điểm. Diễn biến của thị trường trong những tháng cuối năm sẽ phụ thuộc đáng kể vào tốc độ tăng trưởng tín dụng, khả năng cải thiện huy động vốn cũng như định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
