Giá cà phê hôm nay
Kết thúc tuần giao dịch vừa qua, thị trường cà phê trong nước ghi nhận đợt giảm mạnh tại khu vực Tây Nguyên. Theo khảo sát, giá cà phê hiện dao động trong khoảng 89.700 - 90.700 đồng/kg, giảm khoảng 6.000 - 6.600 đồng/kg so với tuần trước, tương đương mức giảm 6,2 - 6,9%. Đây cũng là mức giá thấp nhất được ghi nhận kể từ cuối tháng 12/2025.
Trong đó, Lâm Đồng là địa phương ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi giá cà phê giảm 6.600 đồng/kg, xuống còn khoảng 89.700 đồng/kg. Tại Đắk Nông, giá cà phê giảm khoảng 6.000 đồng/kg, hiện được thu mua ở mức 90.700 đồng/kg. Tương tự, giá cà phê tại Đắk Lắk và Gia Lai cũng giảm khoảng 6.000 đồng/kg, hiện dao động quanh mức 90.500 đồng/kg.
Theo các thương nhân, nguyên nhân chính khiến giá cà phê trong nước giảm mạnh là do nông dân bắt đầu bán ra nhiều hơn trong bối cảnh lo ngại giá có thể tiếp tục điều chỉnh. Nguồn cung tăng nhanh trong ngắn hạn đã tạo áp lực lên thị trường sau giai đoạn giá duy trì ở mức cao trong nhiều tháng trước đó.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê cũng giảm đáng kể trong tuần qua. Trên Sàn giao dịch London, giá cà phê robusta giao kỳ hạn tháng 5/2026 giảm mạnh 8,4% (317 USD/tấn) so với tuần trước, xuống còn 3.455 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 7/2026 cũng giảm 8,3% (307 USD/tấn), xuống còn 3.372 USD/tấn.
Trong khi đó, trên Sàn giao dịch New York, giá cà phê arabica giao kỳ hạn tháng 5/2026 giảm 2,8% (8,2 US cent/pound), xuống còn 285,15 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm 3,1% (9,1 US cent/pound), còn 279,4 US cent/pound.
Dù giá hạt cà phê trên thị trường hàng hóa đã giảm mạnh, người tiêu dùng tại Hoa Kỳ vẫn phải trả mức giá kỷ lục cho cà phê. Theo dữ liệu từ Cục Thống kê Lao động Mỹ, giá cà phê trung bình mà người tiêu dùng Mỹ phải trả trong tháng 2 đạt 9,459 USD/pound – mức cao nhất từ trước đến nay. Con số này tăng 31% so với cùng kỳ năm trước và trở thành một trong những yếu tố chính thúc đẩy lạm phát thực phẩm tại Mỹ trong tháng vừa qua.
Giá cà phê bắt đầu tăng mạnh từ năm 2024 khi thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến mùa vụ tại hai nhà sản xuất lớn là Brazil và Việt Nam. Đà tăng càng mạnh hơn trong năm ngoái khi chính quyền của Donald Trump áp đặt nhiều mức thuế quan diện rộng, làm gia tăng chi phí nhập khẩu.
Theo bà Katie Carguilo, giám đốc của Counter Culture Coffee, chi phí mua cà phê xanh của doanh nghiệp này trong năm nay cao hơn khoảng 20% so với trước đây. Công ty cũng dự kiến phải chịu thêm khoảng 200.000 USD chi phí thuế trong năm nay, sau khi đã phát sinh 1,9 triệu USD chi phí tương tự trong năm ngoái.
Các chuyên gia cho rằng giá cà phê bán lẻ tại Mỹ sẽ khó giảm trong ngắn hạn do độ trễ trong chuỗi cung ứng. Sau khi các nhà rang xay ký hợp đồng mua cà phê, các lô hàng thường mất 4 – 6 tháng để cập cảng và tiếp tục được sử dụng trong nhiều tháng sau đó. Vì vậy, tác động của việc giá hợp đồng tương lai giảm có thể chỉ bắt đầu thể hiện rõ từ đầu năm 2027.
Giá hồ tiêu hôm nay
Trong khi cà phê biến động mạnh, thị trường hồ tiêu trong nước sáng 16/3 lại duy trì trạng thái ổn định. Khảo sát tại các địa phương sản xuất trọng điểm cho thấy giá tiêu hiện dao động trong khoảng 142.500 -144.500 đồng/kg, không thay đổi so với ngày hôm trước.
Cụ thể, giá tiêu tại Đắk Lắk và Đắk Nông đang được thu mua ở mức 144.500 đồng/kg - mức cao nhất trong các vùng trồng tiêu trọng điểm. Bà Rịa – Vũng Tàu ghi nhận mức giá khoảng 143.500 đồng/kg, trong khi Đồng Nai và Bình Phước giao dịch quanh mức 143.000 đồng/kg. Gia Lai hiện có giá thấp nhất, khoảng 142.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia hiện đạt 7.014 USD/tấn. Giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 khoảng 6.100 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt khoảng 9.100 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu hiện dao động trong khoảng 6.300 – 6.400 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l. Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok Indonesia đạt 9.287 USD/tấn, trong khi tiêu trắng của Việt Nam khoảng 9.050 USD/tấn và Malaysia khoảng 12.100 USD/tấn.
Theo báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương, Thái Lan đang nổi lên là một trong những thị trường nhập khẩu hạt tiêu quan trọng của Việt Nam, bên cạnh Mỹ và Đức. Nhu cầu nhập khẩu tiêu của Thái Lan tăng mạnh trong những năm gần đây do ngành chế biến thực phẩm và du lịch phát triển nhanh, trong khi nguồn cung nội địa không đáp ứng đủ.
Theo số liệu của Bộ Thương mại Thái Lan, nhập khẩu hạt tiêu của nước này đã tăng từ 5.990 tấn năm 2020 lên 9.652 tấn trong năm 2025, tương đương tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10% mỗi năm. Riêng trong tháng 1/2026, Thái Lan đã nhập khẩu 978 tấn tiêu, trị giá 7,48 triệu USD, tăng hơn 121% về lượng so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, Việt Nam hiện chiếm tới 99,63% tổng lượng hạt tiêu mà Thái Lan nhập khẩu, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng gia vị của khu vực.
Giá lúa gạo hôm nay
Tại thị trường lúa gạo, giá lúa và gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong sáng 16/3 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định, giao dịch diễn ra chậm và ít biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu hiện không thay đổi so với phiên trước. Cụ thể, gạo nguyên liệu CL 555 được giao dịch quanh mức 7.900 đồng/kg; OM 5451 ở mức 8.450 – 8.550 đồng/kg; OM 380 khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động 8.000 - 8.100 đồng/kg.
Một số loại gạo chất lượng cao duy trì mức giá tốt hơn. Gạo OM 18 hiện ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg, trong khi gạo Đài Thơm 8 dao động 9.150 - 9.450 đồng/kg.
Tại các chợ dân sinh, giá gạo bán lẻ cũng giữ ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài khoảng 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái từ 20.000 - 22.000 đồng/kg; còn gạo thường dao động khoảng 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, giá lúa IR 50404 hiện ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 4218 khoảng 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 5451 từ 5.800 - 6.000 đồng/kg. Các giống lúa chất lượng cao như OM 18 và Đài Thơm 8 duy trì mức 6.500 - 6.700 đồng/kg.
Theo các thương lái, giao dịch lúa tại nhiều địa phương đang diễn ra chậm do phần lớn diện tích lúa Đông Xuân đã được đặt cọc trước đó. Tại Đồng Tháp, nông dân hiện chỉ chào bán nhỏ giọt, khiến thị trường giao dịch khá trầm lắng.
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo Jasmine của Việt Nam hiện dao động trong khoảng 430 - 434 USD/tấn, còn gạo thơm 5% tấm ở mức 400 - 415 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm giảm nhẹ 1 USD/tấn xuống còn 356 - 360 USD/tấn.
So với các đối thủ trong khu vực, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan đang được chào bán ở mức 377 - 381 USD/tấn, còn gạo của Ấn Độ dao động 349 - 353 USD/tấn. Tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm hiện ở mức 357 - 361 USD/tấn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
