Cà phê tăng mạnh trở lại
Thị trường cà phê trong nước sáng 13-5 ghi nhận đà tăng khá mạnh tại khu vực Tây Nguyên. Giá cà phê đồng loạt tăng từ 1.000 - 1.200 đồng/kg, đưa mặt bằng giao dịch trở lại vùng cao sau phiên giảm nhẹ trước đó.
Theo khảo sát, giá cà phê hiện dao động trong khoảng 87.500 - 88.200 đồng/kg. Trong đó, khu vực Lâm Đồng (trước đây là Đắk Nông) tiếp tục dẫn đầu cả nước với mức thu mua 88.200 đồng/kg, tăng thêm 1.100 đồng/kg so với hôm qua.
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng 1.000 đồng/kg, hiện giao dịch quanh mức 88.000 đồng/kg. Trong khi đó, khu vực Lâm Đồng ghi nhận mức tăng mạnh nhất thị trường với thêm 1.200 đồng/kg, đưa giá thu mua lên khoảng 87.500 đồng/kg.
Giới kinh doanh cho rằng đà tăng của thị trường nội địa được hỗ trợ đáng kể từ diễn biến tích cực trên các sàn giao dịch quốc tế, đặc biệt là robusta. Ngoài ra, lượng cà phê còn lại trong dân hiện không quá dồi dào khi nhiều hộ trồng vẫn có xu hướng giữ hàng chờ giá cao hơn.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê tiếp tục tăng mạnh trong phiên giao dịch mới nhất. Tại sàn London, giá robusta giao tháng 7-2026 tăng 92 USD/tấn, tương đương 2,69%, lên mức 3.506 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 9-2026 cũng tăng thêm 80 USD/tấn, đạt 3.382 USD/tấn. Đây là mức giá cao nhất của robusta trong khoảng hai tuần trở lại đây.
Trong khi đó, trên sàn New York, giá arabica cũng bật tăng mạnh sau giai đoạn giảm sâu trước đó. Hợp đồng giao tháng 7-2026 tăng 7,5 US cent/pound, tương đương 2,73%, lên mức 282,3 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9-2026 tăng 7,7 US cent/pound, đạt 274,85 US cent/pound.
Theo Reuters, giá arabica phục hồi mạnh sau khi chạm mức thấp nhất trong khoảng 18 tháng ở phiên giao dịch trước đó.
Giá hồ tiêu duy trì ổn định
Trái ngược với cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục duy trì trạng thái ổn định sau nhiều phiên biến động nhẹ. Theo khảo sát tại các vùng trồng trọng điểm, giá tiêu hiện dao động trong khoảng 141.000 - 144.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Lắk và khu vực Lâm Đồng tiếp tục là hai địa phương có mức thu mua cao nhất cả nước với giá 144.000 đồng/kg nhờ nguồn hàng chất lượng cao phục vụ xuất khẩu.
Theo sau là Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai với cùng mức giao dịch 142.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai vẫn là địa phương có giá thấp nhất thị trường khi duy trì quanh mức 141.000 đồng/kg.
Dù chưa xuất hiện thêm các đợt tăng mới, mặt bằng giá hiện tại vẫn được đánh giá tích cực đối với người trồng tiêu sau giai đoạn dài thị trường gặp khó khăn do dư cung và giá xuống thấp.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu ghi nhận xu hướng tăng nhẹ tại Indonesia và Brazil. Theo dữ liệu từ International Pepper Community, giá tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.967 USD/tấn, tăng thêm 12 USD/tấn so với phiên trước.
Tương tự, giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tăng 50 USD/tấn, lên mức 6.150 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen Malaysia tiếp tục đi ngang ở mức 9.300 USD/tấn.
Đối với thị trường Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l hiện vẫn ổn định trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam được báo giá khoảng 9.000 USD/tấn.
Thị trường lúa gạo giao dịch chậm
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay nhìn chung ít biến động, giao dịch mua bán diễn ra chậm khi nguồn cung không còn dồi dào như giai đoạn trước.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa OM 18 tươi hiện dao động 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 ở mức 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa OM 5451 dao động 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa IR 50404 ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương như Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Vĩnh Long, lượng lúa tươi còn ít, thương lái chủ yếu hỏi mua lúa non hoặc các diện tích đã được đặt cọc từ trước. Giá lúa nhìn chung giữ ổn định.
Đối với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.400 - 8.550 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 ở mức 9.000 - 9.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo bán lẻ tiếp tục đi ngang. Trong đó, gạo Nàng Nhen vẫn có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine của Việt Nam hiện được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 510 - 520 USD/tấn.
Theo báo cáo mới nhất của Food and Agriculture Organization of the United Nations, chỉ số giá gạo toàn cầu tháng 4 đạt 102,1 điểm, tăng 1,9% so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn 2,7% so với cùng kỳ năm ngoái. FAO nhận định thị trường gạo thế giới hiện vẫn trong giai đoạn điều chỉnh kéo dài, dù đã xuất hiện một số tín hiệu ổn định hơn trong thời gian gần đây
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
