Giá vàng tăng mạnh, vàng miếng tiến sát 168 triệu đồng/lượng
Sáng 8/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng mạnh tại hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Giá vàng miếng SJC tại nhiều hệ thống như DOJI, PNJ, Phú Quý, Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải được niêm yết quanh mức 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng khoảng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước.
Giá vàng nhẫn cũng tăng mạnh theo xu hướng chung của thị trường. Nhiều thương hiệu niêm yết vàng nhẫn ở mức 164 - 167,5 triệu đồng/lượng, mức bán ra cao nhất ngang bằng vàng miếng SJC.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay giảm nhẹ xuống quanh 4.690,8 USD/ounce, tương đương khoảng 149,6 triệu đồng/lượng quy đổi theo tỷ giá Vietcombank (chưa bao gồm thuế và phí). Dù điều chỉnh giảm trong ngắn hạn, giới phân tích vẫn đánh giá xu hướng dài hạn của vàng còn tích cực.
Theo báo cáo mới nhất của Morgan Stanley, giá vàng có thể đạt khoảng 5.200 USD/ounce vào cuối năm nay. Các chuyên gia cho rằng triển vọng cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cùng những bất ổn địa chính trị kéo dài tại Trung Đông tiếp tục là yếu tố hỗ trợ quan trọng đối với kim loại quý.
Giá bạc bật tăng mạnh, hướng tới mốc 80 USD/ounce
Cùng xu hướng với vàng, giá bạc thế giới tăng mạnh lên 78,08 USD/ounce, tăng hơn 3 USD so với phiên trước. Đà tăng của bạc được hỗ trợ bởi tâm lý lạc quan về khả năng hạ nhiệt căng thẳng địa chính trị và kỳ vọng môi trường lãi suất thấp sẽ tiếp tục duy trì.
Trong nước, giá bạc tại Hà Nội được giao dịch quanh mức 2,614 - 2,644 triệu đồng/lượng, trong khi Phú Quý niêm yết bạc ở mức cao hơn, khoảng 3,035 - 3,129 triệu đồng/lượng.
Thị trường bạc ghi nhận tín hiệu khởi sắc khi giá phục hồi trở lại, trong khi Mỹ và Iran phát đi những tín hiệu cho thấy khả năng tiến gần hơn tới một thỏa thuận hòa bình.
“Tâm lý tích cực xoay quanh tình hình địa chính trị tại Trung Đông đã khiến lợi suất trái phiếu đi xuống, qua đó tạo lực đỡ cho giá bạc. Theo ông, bạc vốn là tài sản không mang lại lợi suất nên thường hưởng lợi trong môi trường lãi suất và lợi suất trái phiếu suy giảm”, ông Christopher Lewis nhận định.
Xét trên góc độ kỹ thuật, xu hướng ngắn hạn của bạc đang dần cải thiện. Hiện thị trường đang hướng tới vùng 80 USD/ounce - ngưỡng kháng cự được giới đầu tư đặc biệt theo dõi. “Nếu giá bạc có thể chinh phục thành công mốc này, thị trường có khả năng mở ra một nhịp tăng mới với động lực mạnh hơn. Tuy nhiên, diễn biến tiếp theo vẫn sẽ phụ thuộc đáng kể vào các thông tin liên quan tới địa chính trị cũng như triển vọng kinh tế vĩ mô toàn cầu”, ông Christopher Lewis đánh giá.
Giá thép và quặng sắt đồng loạt đi lên
Trên thị trường quốc tế, giá thép và quặng sắt tăng mạnh sau kỳ nghỉ lễ tại Trung Quốc. Trên Sàn Thượng Hải, giá thép thanh kỳ hạn tháng 6/2026 tăng lên quanh mức 3.187 - 3.239 nhân dân tệ/tấn. Các sản phẩm thép khác như thép cuộn cán nóng, thép dây và thép không gỉ cũng đồng loạt tăng giá.
Giá quặng sắt trên Sàn Đại Liên tăng lên khoảng 830 nhân dân tệ/tấn nhờ kỳ vọng nhu cầu thép phục hồi khi các lò cao tại Trung Quốc tái khởi động sản xuất sau thời gian bảo trì. Tuy nhiên, tại Sàn Singapore, giá quặng sắt lại đi ngược xu hướng khi giảm nhẹ xuống 110,25 USD/tấn.
Theo ghi nhận từ công ty môi giới Galaxy Futures, nhu cầu thép được kỳ vọng sẽ tăng trở lại sau kỳ nghỉ 5 ngày tại Trung Quốc, khi các lò cao luyện thép nối lại hoạt động sau thời gian bảo trì. Yếu tố này góp phần hỗ trợ giá quặng sắt trong ngắn hạn.
Ngoài ra, giá quặng sắt còn được thúc đẩy bởi biến động gia tăng trên thị trường than luyện cốc và than cốc, trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tăng lên khi mùa hè đến gần. Tuy nhiên, Galaxy Futures cũng lưu ý rằng lượng quặng nhập khẩu cao cùng với nhu cầu thép tổng thể còn yếu vẫn đang hạn chế đà tăng của giá.
Dữ liệu từ công ty tư vấn Mysteel cho thấy, trong giai đoạn từ ngày 27/4 - 3/5, lượng quặng sắt cập cảng tại 47 cảng của Trung Quốc đã tăng thêm 2,15 triệu tấn so với tuần trước đó.
Trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn. Cụ thể, tại Hòa Phát, thép CB240 và D10 CB300 đều ở mức 15.430 đồng/kg.
Tương tự, Thép Việt Ý miền Bắc ghi nhận giá thép CB240 và D10 CB300 lần lượt 15.150 và 14.700 đồng/kg. Thép Việt Đức miền Bắc ghi nhận giá CB240 và CB300 đều ở mức 15.250 đồng/kg và 15.050 đồng/kg. Một số doanh nghiệp khác như thép VJS miền Bắc, Pomina và Thép Miền Nam vẫn bình ổn giá.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
