Giá vàng hôm nay
Thị trường vàng trong nước sáng 18/3 ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ sau phiên tăng trước đó. Cụ thể, vàng miếng tại các thương hiệu lớn như SJC, DOJI, PNJ, Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt giảm khoảng 100.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, giao dịch phổ biến quanh mức 180 – 183 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Chênh lệch mua – bán duy trì khoảng 3 triệu đồng/lượng.
Ở phân khúc vàng nhẫn, diễn biến có phần phân hóa hơn. Một số doanh nghiệp điều chỉnh giảm 100.000 – 200.000 đồng/lượng, trong khi một số thương hiệu lại tăng nhẹ trở lại, đưa mức giá cao nhất lên ngang bằng vàng miếng, khoảng 183 triệu đồng/lượng. Điều này cho thấy lực cầu nhỏ lẻ vẫn hiện diện, dù thị trường chung đang trong trạng thái thận trọng.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay theo niêm yết của Kitco dao động quanh 5.000 USD/ounce, giảm nhẹ khoảng 0,06–0,07% trong 24 giờ qua. Quy đổi theo tỷ giá của Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương khoảng 158 – 159 triệu đồng/lượng, thấp hơn trong nước khoảng 23 – 24 triệu đồng/lượng.
Nguyên nhân chính khiến giá vàng suy yếu là do đồng USD phục hồi nhẹ, làm giảm sức hấp dẫn của kim loại quý. Bên cạnh đó, hoạt động chốt lời sau chuỗi tăng mạnh trước đó cũng góp phần gây áp lực lên giá vàng.
Trong ngắn hạn, giá vàng có thể tiếp tục dao động trong biên độ hẹp quanh mốc 5.000 USD/ounce khi thị trường chờ tín hiệu từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Tuy nhiên, về dài hạn, vàng vẫn được đánh giá tích cực nhờ vai trò trú ẩn trước rủi ro địa chính trị và lạm phát toàn cầu.
Giá bạc hôm nay
Thị trường bạc trong nước ghi nhận diễn biến không đồng nhất. Tại Phú Quý, giá bạc miếng giữ ổn định quanh mức 3,02 – 3,11 triệu đồng/lượng, trong khi một số đơn vị khác như Ancarat ghi nhận mức giảm nhẹ vài nghìn đồng mỗi lượng.
Đáng chú ý, bạc thỏi loại 1kg tại nhiều doanh nghiệp đã giảm mạnh trong các phiên trước đó, hiện phổ biến quanh 80 – 85 triệu đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá bạc giao ngay dao động quanh 80 – 81 USD/ounce, giảm nhẹ so với phiên trước và đang ở gần vùng thấp nhất trong một tháng. Dù có thời điểm phục hồi nhẹ nhờ đồng USD suy yếu, nhưng xu hướng chung vẫn thiếu rõ ràng.
Giá bạc đang chịu áp lực từ môi trường lãi suất cao và đồng USD mạnh. Tuy nhiên, triển vọng trung – dài hạn vẫn tích cực nhờ nhu cầu công nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử và năng lượng tái tạo. Nếu căng thẳng địa chính trị kéo dài, bạc có thể hưởng lợi cùng với vàng.
Giá thép và quặng sắt
Trên thị trường quốc tế, giá thép và quặng sắt ghi nhận diễn biến trái chiều nhưng xu hướng chung là suy yếu. Kết thúc phiên giao dịch, giá thép thanh kỳ hạn tháng 4/2026 trên Sàn Thượng Hải giảm 0,25% (8 Nhân dân tệ) về mức 3.138 Nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 0,4% (3,5 Nhân dân tệ) lên mức 815 Nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 0,21 USD về mức 107,5 USD/tấn.
Giá quặng sắt giảm trong phiên giao dịch sau khi chạm mức cao nhất hai tháng qua, khi Trung Quốc tạm thời nới lỏng một phần lệnh hạn chế đối với sản phẩm của tập đoàn khai khoáng BHP. Hợp đồng quặng sắt giao tháng 5/2026 được giao dịch nhiều nhất trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) giảm 0,74% xuống còn 809 Nhân dân tệ/tấn, tương đương khoảng 117,25 USD/tấn.
Trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục ổn định. Cụ thể, Hòa Phát báo giá thép D10 CB300 và giá thép cuộn CB240 đều ở mức 14.720 đồng/kg. Tương tự, Thép Việt Ý miền Bắc dòng thép CB240 và D10 CB300 có giá lần lượt 14.440 và 14.340 đồng/kg. Thép Việt Đức miền Bắc dòng CB240 và CB300 có giá đều ở mức 14.550 đồng/kg.
Thép Kyoei có giá CB240 13940 đồng/kg và CB300 có giá 13740 đồng/kg. Thép Pomina Thái Nguyên có giá CB240 14.140 đồng/kg và CB300 có giá 13.990 đồng/kg.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
