Giá cao su thế giới
Trên thị trường quốc tế, giá cao su có sự phân hóa rõ nét giữa các sàn giao dịch. Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn trên sàn Thượng Hải tiếp tục tăng, với hợp đồng tháng 4/2026 lên mức khoảng 16.195 – 16.375 Nhân dân tệ/tấn, tương đương mức tăng gần 0,6 – 1%. Đà tăng này chủ yếu đến từ lực mua kỹ thuật và kỳ vọng nhu cầu phục hồi tại thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới.
Ngược lại, tại Nhật Bản, giá cao su trên sàn Osaka lại giảm khá mạnh. Hợp đồng kỳ hạn tháng 4/2026 giảm xuống quanh mức 350 Yên/kg, trong khi hợp đồng xa hơn như tháng 8/2026 cũng lùi về khoảng 356,9 Yên/kg. Áp lực giảm chủ yếu xuất phát từ hoạt động bán tháo kỹ thuật sau khi giá xuyên thủng các ngưỡng hỗ trợ quan trọng, kết hợp với khối lượng giao dịch tăng vọt sau kỳ nghỉ dài.
Bên cạnh yếu tố kỹ thuật, thị trường còn chịu tác động tiêu cực từ lo ngại vĩ mô khi giá năng lượng duy trì ở mức cao, làm gia tăng rủi ro suy thoái kinh tế toàn cầu. Điều này có thể kéo giảm nhu cầu đối với cao su – nguyên liệu đầu vào quan trọng của ngành công nghiệp ô tô và sản xuất.
Trong khi đó, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn gần như đi ngang quanh mức 75 baht/kg, cho thấy tâm lý thị trường vẫn khá thận trọng và chưa có động lực rõ ràng để bứt phá.
Đáng chú ý, hợp đồng cao su butadien giao tháng 5 được giao dịch nhiều nhất trên SHFE tăng mạnh 1.870 Nhân dân tệ, tương đương 11,99%, lên 17.470 Nhân dân tệ/tấn, đóng cửa ở mức cao nhất kể từ khi niêm yết ngày 28/7/2023.
Dữ liệu do LSEG tổng hợp cho thấy, khối lượng giao dịch cao su tại Osaka tăng vọt sau kỳ nghỉ dài tại Nhật Bản. Theo báo cáo từ Japan Exchange Group, giá đã xuyên thủng các ngưỡng hỗ trợ kỹ thuật ngắn hạn, làm gia tăng áp lực bán ra trên thị trường.
Giá cao su trong nước
Tại thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn hầu hết không ghi nhận biến động mới và tiếp tục duy trì ở mức ổn định.
Cụ thể, Công ty Cao su Phú Riềng giữ giá mủ nước quanh mức 420 – 440 đồng/TSC/kg và mủ tạp khoảng 390 – 400 đồng/DRC/kg. Tại Công ty Cao su Bình Long, giá thu mua mủ nước dao động từ 422 – 432 đồng/TSC/kg, trong khi mủ tạp (DRC 60%) ở mức khoảng 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa niêm yết giá mủ nước trong khoảng 420 – 452 đồng/TSC/kg tùy theo chất lượng, còn mủ đông và mủ nguyên liệu dao động từ khoảng 13.500 – 18.100 đồng/kg. Trong khi đó, Công ty Cao su Mang Yang ghi nhận mức giá cao hơn, với mủ nước loại 1 lên tới 463 đồng/TSC/kg và mủ đông tạp khoảng 404 – 459 đồng/kg.
Việc giá cao su trong nước duy trì ổn định cho thấy nguồn cung nguyên liệu hiện vẫn tương đối cân bằng, trong khi nhu cầu thu mua từ doanh nghiệp chưa có sự đột biến. Đồng thời, thị trường nội địa cũng ít chịu tác động tức thời từ biến động ngắn hạn trên các sàn quốc tế.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
