Giá cao su thế giới
Thị trường cao su thế giới mở đầu tháng 3 với xu hướng phân hóa rõ rệt giữa các sàn giao dịch lớn. Trên Sở Giao dịch Hàng hóa Tokyo (Tocom), giá cao su RSS3 biến động trái chiều giữa các kỳ hạn giao hàng. Cụ thể, hợp đồng tháng 3/2026 tăng 6,40 Yên/kg, tương đương 1,74%, lên mức 373,30 Yên/kg; kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 4,90 Yên/kg (+1,33%), đạt 372,90 Yên/kg. Ngược lại, hợp đồng tháng 6/2026 giảm 1,70 Yên/kg (-0,45%), xuống còn 369,70 Yên/kg.
Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Thượng Hải (SHFE), giá cao su tự nhiên giảm ở tất cả các kỳ hạn. Hợp đồng tháng 3/2026 giảm 110 NDT/tấn (-0,63%), còn 17.055 NDT/tấn; kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 165 NDT/tấn (-0,95%), xuống 17.040 NDT/tấn; hợp đồng tháng 5/2026 giảm 130 NDT/tấn (-0,74%), về mức 17.090 NDT/tấn. Diễn biến này cho thấy áp lực điều chỉnh vẫn chiếm ưu thế tại thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới.
Trên Sàn giao dịch Singapore (SICOM), hợp đồng cao su giao tháng 3 cũng giảm 2,3%, còn khoảng 199,8 US cent/kg. Nhìn tổng thể, thị trường cao su khu vực châu Á khép lại tuần giao dịch với sắc đỏ chiếm ưu thế khi lực chốt lời gia tăng sau giai đoạn tăng mạnh trước đó.
Tại Trung Quốc, hợp đồng cao su giao tháng 5 trên SHFE từng lùi về quanh 17.155 Nhân dân tệ/tấn, trong khi giá butadien – nguyên liệu quan trọng của ngành lốp xe – giảm hơn 2% xuống khoảng 12.630 Nhân dân tệ/tấn. Điều này phản ánh tâm lý thận trọng lan rộng không chỉ ở cao su tự nhiên mà cả phân khúc cao su tổng hợp, trong bối cảnh nhà đầu tư đánh giá lại triển vọng tiêu thụ nguyên liệu công nghiệp.
Trước đó, giá cao su đã tăng lên mức cao nhất trong vòng một năm do nguồn cung thắt chặt, đặc biệt khi giai đoạn nghỉ đông từ tháng 2 đến tháng 5 khiến sản lượng khai thác tại Thái Lan và nhiều nước Đông Nam Á suy giảm. Tuy nhiên, áp lực chốt lời trước kỳ nghỉ cuối tuần cùng nhu cầu tiêu thụ thận trọng đã kéo giá giao ngay đi xuống, qua đó lan sang thị trường kỳ hạn.
Giá cao su trong nước
Trái với biến động trên thị trường quốc tế, giá thu mua cao su nguyên liệu trong nước ngày 2/3 vẫn duy trì ổn định tại các doanh nghiệp lớn. Tại Công ty Cao su Mang Yang, giá mủ nước dao động khoảng 379 – 384 đồng/TSC (loại 2 – loại 1), trong khi mủ đông tạp được thu mua trong khoảng 345 – 393 đồng/DRC.
Công ty Cao su Phú Riềng giữ giá mủ tạp ở mức khoảng 390 – 400 đồng/DRC, còn mủ nước duy trì quanh 420 – 440 đồng/TSC/kg tùy loại. Tại Công ty Cao su Bình Long, giá thu mua tại nhà máy được giữ ở mức khoảng 432 đồng/độ TSC/kg, còn tại đội sản xuất khoảng 422 đồng/TSC/kg; mủ tạp DRC 60% duy trì quanh 14.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Công ty Cao su Bà Rịa báo giá mủ nước khoảng 420 – 452 đồng/độ TSC/kg tùy theo hàm lượng TSC, mủ đông DRC (35 – 44%) ở mức khoảng 13.500 – 14.600 đồng/kg và mủ nguyên liệu dao động quanh 18.000 – 18.100 đồng/kg.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

