Chính thức giảm thuế VAT xuống 8% từ ngày 1/2

Hàng loạt nhóm hàng hóa, dịch vụ sẽ giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng còn 8% từ ngày 1/2/2022.

Ngày 28/1, Chính phủ ban hành Nghị định 15/2022 quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết 43/2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ theo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Nghị định số 15 gồm 03 điều, quy định rõ về chính sách giảm thuế giá trị gia tăng và chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2022 (Mùng 1 Tết Nguyên đán 2022) đến hết ngày 31/12/2022.

Trong đó, Nghị định mới ban hành giữ nguyên các quy định so với dự thảo lấy ý kiến trước đó được Bộ Tài chính đưa ra, với việc tập trung vào quy định giảm thuế giá trị gia tăng (VAT), quy định chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và hiệu lực thi hành.

Cụ thể, Nghị định quy định giảm 2% thuế suất VAT trong năm 2022, áp dụng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế 10%, trừ một số nhóm hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, sau khi giảm trừ, mức thuế VAT các mặt hàng thuộc nhóm được giảm sẽ ở mức 8%.

Chính thức giảm thuế VAT xuống 8 từ ngày 12

Về đối tượng áp dụng, Nghị định số 15 quy định áp dụng giảm thuế giá trị gia tăng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng 10%, không phân biệt phương pháp tính thuế của cơ sở kinh doanh là phương pháp khấu trừ hay phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu.

Lưu ý, các loại hàng hóa, dịch vụ không được giảm thuế lần này bao gồm viễn thông, công nghệ thông tin, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, kim loại, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khai khoáng (không kể khai thác than), than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hoá chất, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB).

Về loại hàng hóa không được giảm thuế VAT là sản phẩm khai khoáng (không kể khai thác than). Nghị định của Chính phủ quy định rõ hơn đối với mặt hàng than khai thác bán ra (bao gồm cả trường hợp than khai thác sau đó qua sàng tuyển, phân loại theo quy trình khép kín mới bán ra) thì được giảm thuế VAT. Còn lại, mặt hàng than tại các khâu khác thì không được giảm thuế.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định giảm thuế VAT mà không phân biệt đối tượng cung cấp hàng hóa, dịch vụ là doanh nghiệp, tổ chức hay hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Do vậy, việc áp dụng giảm thuế sẽ không phân biệt phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ hay phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu.

Để đảm bảo việc giảm thuế đúng quy định, đưa chính sách giảm thuế đến đúng đối tượng thụ hưởng là người mua hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo minh bạch, tránh lợi dụng, Nghị định số 15 cũng quy định rõ việc xuất hóa đơn.

“Cơ sở kinh doanh phải lập hóa đơn riêng cho hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cơ sở kinh doanh không lập hóa đơn riêng cho hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế giá trị gia tăng thì không được giảm thuế giá trị gia tăng”, Bộ Tài chính lưu ý.

Đối với trường hợp cơ sở kinh doanh đã lập hóa đơn và đã kê khai theo mức thuế suất hoặc mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng chưa được giảm theo quy định tại Nghị định, người bán và người mua phải lập biên bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót.

Đồng thời, người bán lập hóa đơn điều chỉnh sai sót và giao hóa đơn điều chỉnh cho người mua. Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, người bán kê khai điều chỉnh thuế đầu ra, người mua kê khai điều chỉnh thuế đầu vào nếu có.

Đối với trường hợp cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng được giảm thuế giá trị gia tăng đã phát hành hóa đơn đặt in dưới hình thức vé có in sẵn mệnh giá chưa sử dụng hết và có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì cơ sở kinh doanh thực hiện đóng dấu theo giá đã giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng hoặc giá đã giảm 20% mức tỷ lệ % bên cạnh tiêu thức giá in sẵn để tiếp tục sử dụng.

Để người tiêu dùng thực sự được hưởng lợi từ việc giảm thuế VAT, Chính phủ cũng giao các Bộ, ngành chức năng và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan liên quan hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, trong đó tập trung các giải pháp ổn định cung cầu hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng giảm thuế để giữ bình ổn mặt bằng giá cả thị trường (giá chưa có thuế) từ ngày 1/2 đến hết năm 2022.

Theo đánh giá từ cơ quan quản lý, quy định trên sẽ có tác động giảm thu ngân sách năm 2022 khoảng 51.400 tỷ đồng. Trong đó, chính sách giảm thuế VAT là 49.400 tỷ và thực hiện không tính thuế TNDN với chi phí ủng hộ, tài trợ các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 là 2.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, số tiền thuế này sẽ giúp doanh nghiệp, tổ chức và người dân vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch, từ đó phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, chính sách còn có tác dụng kích thích tiêu dùng, đầu tư qua đó đóng góp vào kết quả khôi phục lại nền kinh tế sau dịch và góp phần thực hiện an sinh xã hội.

Tin liên quan
Tin khác
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ

Từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống và các hộ kinh doanh nhỏ, thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước trở thành phương thức giao dịch quen thuộc tại TP Hồ Chí Minh. Cùng với sự chuyển dịch này, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thanh toán số phát triển rộng khắp.

Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc