Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Khơi thông vốn, bám sát nhu cầu thực

Theo thông tin Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) công bố tại họp báo ngày 7/10/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đến ngày 30/9 đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số liệu mới nhất được công bố tại thời điểm đầu tháng 10, cho thấy tín dụng tiếp tục mở rộng trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao.

Bên cạnh đó áp lực giá cả vẫn là yếu tố cần cân nhắc trong điều hành tiền tệ. Theo số liệu được công bố tại cuộc họp, CPI tháng 9/2026 tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 5,08% so với cùng kỳ; bình quân chín tháng tăng 4,52%. Những diễn biến này khiến việc thúc đẩy tín dụng phải được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm thanh khoản hệ thống.

Nới dòng vốn giữ kỷ luật tín dụng
Ảnh minh họa

Trong khi, NHNN cho biết tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, đồng thời yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất, công khai lãi suất cho vay và thực hiện giảm lãi suất tiền gửi, cho vay theo chỉ đạo. Đến ngày 20/9, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới đạt 6,38%/năm. NHNN đánh giá tốc độ tăng lãi suất đã chậm lại, nhưng điều đó chưa đồng nghĩa chi phí vốn của các ngân hàng đã giảm.

Một điểm đáng chú ý trong định hướng tín dụng là việc tạo điều kiện cho những lĩnh vực có khả năng đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng. NHNN cho biết dư nợ tăng thêm đối với nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất và một số loại hình du lịch, nghỉ dưỡng được loại trừ khi tính mức tăng trưởng tín dụng bất động sản theo cơ chế áp dụng năm 2026. Cơ quan quản lý cũng triển khai giải pháp bổ sung dư địa tín dụng đối với các dự án quy mô lớn, trọng điểm, có tính liên kết và lan tỏa kinh tế.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chương trình tín dụng được NHNN chỉ đạo triển khai từ tháng 8/2026 quy định lãi suất ưu đãi thấp hơn tối thiểu 1 điểm phần trăm/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng cho vay. Đây là một cơ chế hỗ trợ chi phí vốn, nhưng hiệu quả thực tế cần được đánh giá trên cơ sở số tiền đã giải ngân, số doanh nghiệp thụ hưởng và khả năng duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh sau khi tiếp cận vốn.

Thực tế, khả năng vay vốn không chỉ phụ thuộc vào lãi suất. Doanh nghiệp có báo cáo tài chính minh bạch, dòng tiền ổn định, lịch sử trả nợ tốt và phương án kinh doanh khả thi thường thuận lợi hơn trong quá trình thẩm định. Ngược lại, doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, hồ sơ kế toán chưa đầy đủ hoặc dòng tiền biến động vẫn có thể gặp khó khăn ngay cả khi có chương trình ưu đãi.

Vì vậy, khơi thông tín dụng cần gắn với cải thiện quy trình đánh giá khách hàng, tăng khả năng khai thác dữ liệu và phát triển hình thức cho vay dựa trên dòng tiền. Cách tiếp cận này có thể giúp ngân hàng mở rộng tệp khách hàng đủ điều kiện mà không phải đánh đổi nguyên tắc kiểm soát rủi ro.

Kỷ luật tín dụng trước áp lực chi phí vốn

Dữ liệu thị trường cho thấy tăng trưởng tín dụng nhanh hơn huy động vốn đang tạo sức ép lên cân đối nguồn vốn. Theo báo cáo của FiinRatings được công bố đầu tháng 10/2026, đến cuối tháng 8, tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt tăng trưởng huy động khoảng 1,4 điểm phần trăm. Cùng báo cáo, đơn vị này cho biết lãi suất cho vay bình quân tăng khoảng 1,55 điểm phần trăm trong bảy tháng, lên 9,4%; lợi suất trái phiếu ngân hàng phát hành mới đạt 8,5% trong tháng 7.

Các số liệu trên thuộc phạm vi và phương pháp tổng hợp của FiinRatings, không nên đồng nhất với mức lãi suất bình quân của toàn bộ khoản vay đang lưu hành. Tuy nhiên, chúng cho thấy chi phí huy động và phát hành vốn đang là yếu tố quan trọng trong quyết định cho vay của các ngân hàng. FiinRatings dự báo chi phí vốn có thể đi ngang trong quý IV/2026, thay vì giảm rõ rệt.

Ở góc độ ngân hàng thương mại, khi giá vốn đầu vào tăng, khả năng giảm lãi suất cho vay sẽ phụ thuộc vào cơ cấu tiền gửi, kỳ hạn nguồn vốn, mức độ cạnh tranh và biên lãi ròng của từng tổ chức. Ngân hàng có nền tảng tiền gửi ổn định có thể có lợi thế nhất định so với những đơn vị phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn thị trường. Vì thế, mặt bằng lãi suất không nhất thiết biến động giống nhau giữa các ngân hàng, ngay cả khi cùng hoạt động trong một môi trường chính sách.

Chất lượng tài sản cũng cần được theo dõi song song với tăng trưởng dư nợ. Theo báo cáo cập nhật sáu tháng đầu năm 2026 của SNI Ratings, tỷ lệ nợ xấu của nhóm ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu tăng từ 1,86% cuối năm 2025 lên 2,01%; tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng từ 1,16% lên 1,38%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm từ 83% xuống 79%. Đây là số liệu của nhóm ngân hàng được khảo sát, không phải tỷ lệ đại diện mặc nhiên cho toàn bộ hệ thống.

Các chỉ số này chưa đủ để kết luận chất lượng tín dụng toàn ngành đang suy giảm đồng đều, nhưng cho thấy việc theo dõi nợ nhóm 2, khả năng trả nợ và mức dự phòng là cần thiết. Nợ xấu thường phản ánh khó khăn đã phát sinh, trong khi nợ nhóm 2 có thể cung cấp tín hiệu sớm về những khoản vay có nguy cơ chuyển nhóm. Bởi vậy, chỉ nhìn vào tốc độ tăng dư nợ hoặc tỷ lệ nợ xấu tại một thời điểm sẽ chưa phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro.

Đối với tín dụng bất động sản, cần phân biệt khoản vay phục vụ nhu cầu nhà ở thực, dự án có pháp lý đầy đủ và dòng tiền rõ ràng với khoản vay phụ thuộc lớn vào kỳ vọng tăng giá tài sản. Tương tự, tín dụng dành cho sản xuất, kinh doanh cũng cần được đánh giá theo khả năng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả đầu tư và nguồn trả nợ, thay vì chỉ dựa vào tên ngành hoặc mục đích vay được khai báo.

Kỷ luật tín dụng vì vậy không đồng nghĩa với hạn chế cho vay trên diện rộng. Trọng tâm là thẩm định đúng khách hàng, giám sát việc sử dụng vốn, đánh giá khả năng trả nợ và trích lập dự phòng phù hợp. Các ngân hàng cũng cần củng cố vốn tự có, quản trị chênh lệch kỳ hạn và nâng cao năng lực nhận diện rủi ro để tạo dư địa tăng trưởng bền vững.

Trong thời gian tới, bài toán không chỉ nằm ở việc tiếp tục mở rộng tín dụng ngân hàng, mà còn ở phát triển các kênh huy động vốn trung và dài hạn. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch hơn, thị trường cổ phiếu có chiều sâu và các cơ chế bảo lãnh tín dụng hiệu quả có thể chia sẻ áp lực cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng.

Khi doanh nghiệp có thêm lựa chọn tài chính phù hợp với quy mô và chu kỳ đầu tư, tín dụng ngân hàng sẽ có điều kiện tập trung hơn vào những nhu cầu vốn có khả năng hoàn trả rõ ràng. Đó là hướng đi để tăng trưởng tín dụng không chỉ nhanh hơn, mà còn an toàn và hiệu quả hơn.

Tin khác
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Standard Chartered giữ dự báo GDP Việt Nam năm 2026 tăng 9,5%
Standard Chartered giữ dự báo GDP Việt Nam năm 2026 tăng 9,5%

Standard Chartered dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam quý III/2026 đạt 8,7% so với cùng kỳ năm trước, đưa tăng trưởng nửa cuối năm lên 10,6% và giữ nguyên dự báo GDP cả năm ở mức 9,5%. Sản xuất công nghiệp, thương mại và nhu cầu nội địa tiếp tục được xác định là những động lực hỗ trợ tăng trưởng trong những tháng cuối năm.

Lãi suất cao gây sức ép, lợi nhuận quý III vẫn dự báo tăng 25%
Lãi suất cao gây sức ép, lợi nhuận quý III vẫn dự báo tăng 25%

MBS Research dự báo lợi nhuận toàn thị trường trong quý III/2026 có thể tăng 25% so với cùng kỳ, nhưng tốc độ tăng trưởng được dự báo chậm lại so với hai quý đầu năm. Môi trường lãi suất cao, chi phí đầu vào và sự phân hóa giữa các nhóm ngành tiếp tục là những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trong quý cuối của năm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc