Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước
Theo Cục Thống kê, trong chín tháng năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực, GDP tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp cao nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế (49,62%); tiếp đến là khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03% và cuối cùng là khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35%.
Ở địa phương, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.
Đây là những địa phương có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn, đồng thời được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và sự phát triển của khu vực dịch vụ đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước.
Quảng Ninh là địa phương có tốc độ tăng GRDP chín tháng cao nhất cả nước, đạt 12,54%; riêng quý III/2026 tăng 15,04%, cho thấy đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì và tăng tốc trong quý III. Tăng trưởng của Quảng Ninh có tính đa dạng, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 14,02%; khu vực dịch vụ tăng 13,82%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,70%. Đáng chú ý, giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,67%, đóng góp 3,82 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của Quảng Ninh.
Hà Tĩnh đạt mức tăng GRDP 12,36% trong chín tháng năm 2026, đứng thứ hai cả nước. Đây là địa phương thể hiện rõ nhất vai trò của công nghiệp quy mô lớn trong thúc đẩy tăng trưởng, trong đó: Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 21,56%, đóng góp 8,72 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; riêng công nghiệp tăng 25,64%, đóng góp 8,13 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ tăng 7,15%, đóng góp 2,63 điểm phần trăm; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,70%, đóng góp 0,51 điểm phần trăm.
Hải Phòng đạt mức tăng GRDP 12,08% trong chín tháng năm 2026, đứng thứ ba cả nước và đứng thứ 2 trong vùng Đồng bằng sông Hồng. Mặc dù chưa đạt kế hoạch đề ra, mức tăng trưởng này cho thấy các động lực tăng trưởng chủ yếu của thành phố tiếp tục được duy trì, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ đóng vai trò quan trọng.
Bắc Ninh đạt mức tăng GRDP 11,81% trong chín tháng năm 2026, đứng thứ tư cả nước. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,87%, khu vực dịch vụ tăng 8,88%. Công nghiệp tiếp tục là động lực chính, phản ánh đặc trưng của một trung tâm sản xuất công nghiệp có mức độ hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng, riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,17%.
Hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục mở rộng. Một số doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo ghi nhận doanh thu tăng cao, trong đó FuYu tăng khoảng 94,0%; Siflex tăng khoảng 34,8%; Luxshare tăng khoảng 30,0%; Sam sung ước tăng 16,0%. Những con số này cho thấy đóng góp của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp có quy mô lớn và liên kết với chuỗi sản xuất quốc tế, có ý nghĩa đáng kể đối với tăng trưởng của địa phương.
Ninh Bình đạt mức tăng GRDP 11,31% trong chín tháng năm 2026, đứng thứ năm cả nước. Đây là địa phương có sự kết hợp khá rõ giữa công nghiệp và dịch vụ. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 15,58%, đóng góp 7,20 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,95%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,06%, đóng góp 0,39 điểm phần trăm.
Riêng công nghiệp tăng 17,23%, đóng góp 6,68 điểm phần trăm; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,42%, đóng góp 6,36 điểm phần trăm. Như vậy, phần lớn tăng trưởng của Ninh Bình được tạo bởi sự mở rộng mạnh của khu vực công nghiệp; đồng thời khu vực dịch vụ cũng đóng góp đáng kể, giúp cơ cấu đóng góp giữa các khu vực kinh tế vào tăng trưởng của tỉnh được cân bằng hơn.
Một điểm mạnh của Ninh Bình là sự kết hợp giữa nền tảng công nghiệp với lợi thế dịch vụ, du lịch và thương mại. Trong điều kiện công nghiệp tiếp tục tăng tốc, sự phát triển của dịch vụ giúp mở rộng tác động của tăng trưởng đến tiêu dùng, vận tải, lưu trú, ăn uống và các hoạt động kinh tế đô thị. Đây là hướng tạo tăng trưởng có độ lan tỏa rộng hơn so với việc chỉ dựa vào một nhóm ngành sản xuất.
Động lực chung cho tăng trưởng kinh tế
Từ kết quả chín tháng năm 2026, có thể nhận thấy bốn nhóm động lực chung cho tăng trưởng kinh tế xuyên suốt của 5 địa phương có tốc độ tăng GRDP cao nhất.
Thứ nhất, công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực cốt lõi. Cả 5 địa phương đều có nền tảng sản xuất công nghiệp lớn hoặc đang mở rộng nhanh năng lực chế biến, chế tạo.
Thứ hai, đầu tư đóng vai trò chuyển hóa tiềm năng thành năng lực sản xuất mới, đặc biệt thông qua các dự án mới đi vào hoạt động, mở rộng công suất, khu công nghiệp và hạ tầng giao thông.
Thứ ba, xuất khẩu và hội nhập chuỗi cung ứng tạo đầu ra và mở rộng thị trường cho sản xuất công nghiệp, thể hiện rõ tại Bắc Ninh và Hải Phòng, đồng thời ngày càng rõ ở Quảng Ninh và Hà Tĩnh.
Thứ tư, dịch vụ đóng vai trò là động lực lan tỏa, nổi bật tại Quảng Ninh và Hải Phòng, đồng thời có vai trò đáng kể tại Ninh Bình.
Tuy nhiên, cấu trúc đóng góp của các động lực tăng trưởng tại 5 địa phương có sự khác biệt. Hà Tĩnh nổi bật với công nghiệp quy mô lớn và hình thành năng lực sản xuất mới; Bắc Ninh dựa nhiều vào công nghiệp chế biến, chế tạo và hệ sinh thái doanh nghiệp có mức độ liên kết cao với chuỗi cung ứng toàn cầu; Hải Phòng dựa trên sự kết hợp công nghiệp – cảng biển – logistics – xuất khẩu – dịch vụ; Quảng Ninh có cấu trúc động lực đa dạng với công nghiệp chế biến, chế tạo, đầu tư và du lịch; còn Ninh Bình đang thể hiện sự kết hợp giữa công nghiệp tăng tốc và dịch vụ tăng khá.
Kết quả chín tháng năm 2026 cho thấy tăng trưởng GRDP hai con số tại các địa phương trên là kết quả của quá trình tích lũy năng lực sản xuất, thu hút và thực hiện đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu và phát triển dịch vụ. Công nghiệp chế biến, chế tạo là nền tảng chung, nhưng mức tăng trưởng cao được củng cố bởi các động lực bổ trợ khác nhau tùy từng địa phương.
Từ góc độ phân tích động lực tăng trưởng, có thể rút ra một nhận định: tăng trưởng cao và có khả năng lan tỏa thường xuất hiện khi địa phương đồng thời khai thác được lợi thế sản xuất, hạ tầng, đầu tư và thị trường. Việc đưa các dự án mới vào vận hành, nâng công suất của doanh nghiệp hiện hữu, phát triển khu công nghiệp, cải thiện kết nối logistics và kích thích các ngành dịch vụ đi cùng sản xuất đang tạo ra hiệu ứng cộng hưởng. Đây cũng là cơ sở để đánh giá chất lượng tăng trưởng trong thời gian tới, không chỉ qua tốc độ GRDP mà còn qua mức độ đa dạng hóa động lực, khả năng liên kết doanh nghiệp và mức độ lan tỏa sang khu vực dịch vụ.
Trong sau tháng cuối năm 2026 và các năm tiếp theo, việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao cần đi cùng với nâng cao năng suất lao động, tăng hàm lượng công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, mở rộng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, đồng thời phát huy tốt hơn nữa các lợi thế dịch vụ, logistics, du lịch và đô thị. Khi các động lực này được kết nối và bổ trợ lẫn nhau, tăng trưởng GRDP không chỉ đạt tốc độ cao trong ngắn hạn mà còn có thêm nền tảng để duy trì ổn định và nâng cao chất lượng tăng trưởng trong trung và dài hạn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
