Trên thị trường lúa gạo, giá trong nước ít biến động, còn xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam tiếp tục giữ vị thế chủ đạo tại Mỹ, chiếm 80,4% lượng nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2026.
Giá tiêu hôm nay đi ngang sau phiên giảm mạnh
Giá tiêu hôm nay 10/10 tại các vùng trồng trọng điểm không ghi nhận biến động mới sau phiên giảm 1.000-1.500 đồng/kg trước đó. Giá thu mua tại các địa phương hiện dao động trong khoảng 135.500-139.000 đồng/kg.
Tại Đắk Nông thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá tiêu tiếp tục được thu mua ở mức 139.000 đồng/kg, cao nhất trong các địa phương khảo sát. Đắk Lắk đứng tiếp theo với 137.500 đồng/kg.
Ở khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc TP. Hồ Chí Minh, giá hồ tiêu duy trì ở mức 136.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và khu vực Bình Phước thuộc tỉnh Đồng Nai cùng ghi nhận mức 135.500 đồng/kg, thấp nhất thị trường.
Chênh lệch giữa giá tiêu cao nhất và thấp nhất hiện là 3.500 đồng/kg. Việc giá chững lại sau nhịp giảm cho thấy thị trường đang tạm thời ổn định, trong khi người bán và doanh nghiệp thu mua tiếp tục theo dõi diễn biến cung cầu.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại các nước xuất khẩu lớn cũng tương đối ổn định. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia được chào bán ở mức 6.834 USD/tấn, tiêu đen Malaysia đạt 9.200 USD/tấn, còn tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.800 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l đạt 5.950 USD/tấn, trong khi loại 550 g/l ở mức 5.995 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia duy trì mức 9.357 USD/tấn, Việt Nam đạt 8.450 USD/tấn, trong khi Malaysia đứng ở mức 12.100 USD/tấn.
Về thị trường xuất khẩu, Việt Nam tiếp tục giữ vị thế nhà cung cấp hồ tiêu lớn nhất tại Mỹ. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Mỹ nhập khẩu 54.878 tấn hồ tiêu, trong đó Việt Nam cung cấp 44.119 tấn, tương đương 80,4% tổng lượng nhập khẩu.
Tỷ trọng này cho thấy vai trò quan trọng của thị trường Mỹ đối với ngành hồ tiêu Việt Nam. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, giá tiêu trong nước vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhu cầu thu mua của doanh nghiệp xuất khẩu, lượng hàng sẵn có và biến động giá trên thị trường quốc tế.
Giá cà phê hôm nay giảm 1.000 đồng/kg, xuống đáy 3 tháng
Giá cà phê hôm nay 10/10 tại các vùng trồng trọng điểm Tây Nguyên tiếp tục giảm 1.000 đồng/kg so với phiên trước, đưa mặt bằng thu mua xuống còn 91.200-92.000 đồng/kg.
Tại Đắk Nông thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá cà phê được thu mua ở mức 92.000 đồng/kg, cao nhất trong các địa phương khảo sát. Đắk Lắk và Gia Lai cùng giao dịch ở mức 91.800 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tiếp tục có giá thấp nhất, đạt 91.200 đồng/kg.
So với mức 93.600-94.400 đồng/kg ghi nhận ngày 8/10, giá cà phê đã giảm tổng cộng 2.400 đồng/kg chỉ trong hai phiên. Đáng chú ý, mặt bằng thu mua hiện đã lùi xuống mức thấp nhất kể từ đầu tháng 7, cho thấy áp lực điều chỉnh gia tăng sau giai đoạn phục hồi trước đó.
Một trong những nguyên nhân chính là diễn biến giảm trên thị trường kỳ hạn quốc tế, đặc biệt tại sàn Robusta London. Khi giá kỳ hạn suy yếu, tâm lý giao dịch trong nước cũng chịu tác động, khiến giá thu mua tại các vùng nguyên liệu giảm theo.
Bên cạnh đó, thị trường đang bước vào giai đoạn đầu niên vụ cà phê 2026-2027. Hoạt động thu hoạch tại Tây Nguyên dự kiến tăng dần trong những tuần tới, làm gia tăng kỳ vọng nguồn cung được bổ sung khi vụ mới bước vào cao điểm.
Tuy nhiên, lượng hàng thực tế đưa ra thị trường còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Mưa kéo dài có thể ảnh hưởng đến tiến độ thu hái, phơi sấy và chất lượng hạt cà phê, qua đó làm thay đổi diễn biến cung cầu trong ngắn hạn.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê ngày 10/10 tiếp tục giảm trên cả hai sàn giao dịch lớn là London và New York.
Tại London, hợp đồng Robusta giao tháng 11/2026 giảm 62 USD/tấn, tương đương 1,78%, xuống còn 3.423 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 71 USD/tấn, tương đương 2,05%, còn 3.398 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá Arabica giao tháng 3/2027 giảm 3,65 US cent/pound, tương đương 1,25%, xuống 289,05 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 5/2027 cũng giảm 3,55 US cent/pound, tương đương 1,25%, còn 281,35 US cent/pound.
Áp lực giảm giá chủ yếu đến từ triển vọng nguồn cung được cải thiện, đặc biệt tại Brazil - quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới. Trong bối cảnh nguồn cung vụ mới tại Việt Nam cũng đang dần được bổ sung, diễn biến giá quốc tế sẽ tiếp tục là yếu tố quan trọng chi phối thị trường cà phê Tây Nguyên.
Giá lúa gạo hôm nay ít biến động, xuất khẩu giữ giá
Giá lúa gạo hôm nay 10/10 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ít biến động, giao dịch mua bán còn chậm. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang so với phiên trước.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi DS1 giảm 100 đồng/kg, xuống 6.400-6.500 đồng/kg. Lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động 6.200-6.300 đồng/kg; lúa tươi OM 34 ở mức 5.800-5.900 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động 5.900-6.000 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 ở mức 6.000-6.100 đồng/kg.
Tại các địa phương, giao dịch lúa Thu Đông mới vẫn chậm, giá tương đối vững. Tại Cần Thơ, hoạt động mua bán còn ít, giá lúa chững lại. Tại An Giang, giao dịch lúa Thu Đông chưa sôi động, giá ít biến động. Trong khi đó, tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau, giao dịch mua bán chậm, giá lúa nhìn chung ổn định.
Với mặt hàng gạo nguyên liệu xuất khẩu, CL 555 dao động 8.700-8.750 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.650-8.750 đồng/kg; OM 5451 dao động 9.300-9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200-9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng được giao dịch ở mức 7.500-7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, giá các mặt hàng dao động khoảng 7.750-9.150 đồng/kg. Tấm thơm ở mức 8.900-9.000 đồng/kg, trong khi giá cám tăng 100 đồng/kg, lên 7.750-7.900 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo nhìn chung đi ngang. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá niêm yết cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000-22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine được bán ở mức 16.500-17.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 14.000-15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 15.000-16.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động 15.000-16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định. Giá nếp 3 tháng khô dao động 9.600-9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và nếp IR 5625 tươi cùng ở mức 7.300-7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm dao động 371-375 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 515-519 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 440-445 USD/tấn.
Tại các quốc gia xuất khẩu lớn khác, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được chào bán ở mức 455-459 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan duy trì ở mức 409-413 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm đạt 382-386 USD/tấn, trong khi gạo đồ 5% tấm dao động 381-385 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước chưa có nhiều động lực tăng giá khi giao dịch còn chậm. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam vẫn giữ ổn định, trong khi chênh lệch giá giữa các nguồn cung châu Á tiếp tục tạo áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp xuất khẩu.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
