Tín dụng mở rộng, nhưng tiền rẻ có điều kiện
Bức tranh tín dụng những tháng cuối năm đang cho thấy một nghịch lý đáng chú ý khi nguồn vốn ngân hàng tiếp tục được mở rộng mạnh. Tín dụng tiếp tục tăng, nhưng khả năng giảm lãi suất cho vay trên diện rộng vẫn chịu sức ép từ chi phí huy động và nhu cầu vốn.
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước - Phạm Thanh Hà cho biết, đến ngày 30/9/2026, tổng dư nợ tín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ. Quy mô tín dụng này cho thấy dòng vốn ngân hàng tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Trước đó theo Cục Thống kê tính đến ngày 28/9, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,78%, trong khi tín dụng tăng 10,89% so với cuối năm 2025.
Đây chính là lý do khó có thể nói thị trường đã quay trở lại một thời kỳ “tiền rẻ” theo nghĩa rộng. Bởi trong thực tế, các ngân hàng đang có xu hướng áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi theo từng nhóm khách hàng, lĩnh vực và chương trình tín dụng, thay vì giảm đồng loạt lãi suất cho vay.
Đến nay, chương trình tín dụng dành cho các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có 19 ngân hàng đăng ký tham gia, tổng quy mô khoảng 409.000 tỷ đồng. Trong số này, 10 ngân hàng đã giải ngân cho khoảng 12.900 lượt khách hàng, với tổng dư nợ khoảng 18.600 tỷ đồng; lãi suất thấp hơn từ 1-3,6 điểm phần trăm.
Ở cấp ngân hàng, sự phân hóa cũng khá rõ. BIDV dành 25.000 tỷ đồng cho chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp và doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng. Vietcombank triển khai các chương trình giảm lãi suất 0,5-2%/năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; dư nợ nhóm khách hàng này tăng 13,5% trong 8 tháng đầu năm, cao hơn mức tăng tín dụng chung của ngân hàng. Agribank cũng triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô 100.000 tỷ đồng.
Như vậy, “vốn rẻ” đang xuất hiện rõ hơn ở những khu vực được xác định có khả năng tạo tăng trưởng, thay vì lan tỏa đồng đều. Điều đó cho thấy dòng vốn có thể thuận lợi hơn, nhưng chưa chắc đã rẻ hơn trên diện rộng.
Điều này phù hợp với định hướng điều hành của NHNN trong năm 2026: tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào sản xuất – kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng, đồng thời kiểm soát tín dụng đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Mặt bằng lãi suất tiền gửi thời gian gần đây chịu sức ép tăng khi nhu cầu vốn của nền kinh tế cao. TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính – ngân hàng cho rằng, khi ngân hàng vẫn phải huy động vốn với chi phí cao thì dư địa để giảm sâu lãi suất cho vay là rất hạn chế.
Hàng hóa chờ sức mua, doanh nghiệp chờ dòng tiền
Đối với thị trường hàng hóa, sự thay đổi của dòng tín dụng có ý nghĩa lớn hơn một con số lãi suất. Khi doanh nghiệp tiếp cận được vốn với chi phí hợp lý hơn, vòng quay vốn lưu động có thể được đẩy nhanh. Doanh nghiệp có thể tăng nhập nguyên liệu, mở rộng sản xuất, bổ sung hàng tồn kho hoặc tăng năng lực phân phối. Nếu đơn hàng tăng cùng lúc, tín dụng sẽ trở thành chất xúc tác cho sản xuất và thương mại. Nhưng nếu sức mua không tăng tương ứng, tác động sẽ khác.
Cục Thống kê cho biết tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2026 vẫn tăng hai chữ số, song bán lẻ hàng hóa tăng 12,8%, thấp hơn mức tăng 16,7% của dịch vụ lưu trú và ăn uống. Cơ quan thống kê cũng lưu ý chi phí đầu vào tăng cao đang ảnh hưởng đến mức tăng thực của chỉ tiêu bán lẻ.
Trong khi đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,4%, nếu loại trừ yếu tố giá vẫn tăng 7,8%, cho thấy nhu cầu thực tế vẫn duy trì tích cực.
Ở phía ngân hàng, tín dụng đang tăng nhanh. Nhưng ở phía doanh nghiệp, khả năng tiếp cận vốn là chưa đồng đều. Những doanh nghiệp có tài sản bảo đảm, dòng tiền ổn định, đơn hàng rõ ràng và khả năng chứng minh hiệu quả sử dụng vốn sẽ có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các chương trình ưu đãi và ngược lại. Vì vậy, tác động của dòng vốn đến thị trường hàng hóa có thể diễn ra theo hướng phân hóa, thay vì tạo ra một làn sóng tăng trưởng đồng đều.
Bên cạnh đó, từ ngày 1/12/2026, việc áp dụng có lộ trình các chỉ tiêu thanh khoản LCR, NSFR và quy định chuyển tiếp của Thông tư 50/2026/TT-NHNN sẽ tạo thêm dư địa để các ngân hàng sử dụng nguồn tiền huy động cho hoạt động tín dụng, nhưng không có nghĩa ngân hàng sẽ lập tức đẩy mạnh cho vay bất kể chất lượng tín dụng.
Thực tế, NHNN vẫn phải cân bằng nhiều mục tiêu cùng lúc: hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, bảo đảm thanh khoản và hạn chế rủi ro tín dụng. TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia Kinh tế cũng lưu ý rằng, áp lực lên tỷ giá có thể gia tăng và dư địa giảm lãi suất cũng trở nên khó khăn hơn.
Trong khi đó, nhóm phân tích của Techcombank cho rằng việc giải ngân đầu tư công được kỳ vọng tăng tốc trong những tháng cuối năm có thể bổ sung thanh khoản cho nền kinh tế và một phần dòng tiền sau đó quay trở lại hệ thống ngân hàng, qua đó giảm áp lực phải cạnh tranh huy động vốn.
Đây có thể là biến số quan trọng đối với mặt bằng lãi suất cuối năm. Nếu đầu tư công tăng tốc, sản xuất phục hồi, xuất khẩu duy trì đà tăng và dòng tiền quay vòng nhanh hơn, áp lực vốn của doanh nghiệp có thể được cải thiện. Ngược lại, nếu nhu cầu vốn tiếp tục tăng nhanh hơn huy động, mặt bằng lãi suất khó giảm sâu.
Nhìn về cuối năm, câu chuyện quan trọng có lẽ không còn là liệu lãi suất có giảm thêm vài điểm phần trăm, mà là dòng vốn có đi đúng vào những khu vực tạo ra năng suất và sức mua thực hay không.
Với ngân hàng, bài toán là mở rộng tín dụng nhưng không đánh đổi chất lượng tài sản. Với doanh nghiệp, lợi thế không chỉ nằm ở việc vay được vốn rẻ mà ở khả năng biến vốn thành doanh thu, hàng hóa và dòng tiền đủ nhanh để trả nợ. Còn với thị trường hàng hóa, tín dụng chỉ thực sự tạo thành một chu kỳ mới khi nó được nối với đơn hàng và sức mua.
Việc tín dụng tăng 11,59% sau chín tháng là tín hiệu tích cực, phía sau con số tín dụng vẫn là bài toán huy động vốn, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, chất lượng tài sản và sức hấp thụ của doanh nghiệp. Nếu dòng tiền tiếp tục được dẫn vào sản xuất, hạ tầng, xuất khẩu, logistics, bán lẻ và các ngành có khả năng quay vòng vốn nhanh. Nhưng nếu tín dụng tăng nhanh hơn sức mua, rủi ro tồn kho và áp lực chi phí tài chính sẽ tiếp tục là lực cản.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
