Giá tiêu hôm nay tiếp tục đi ngang
Giá tiêu hôm nay 6/10 tại các vùng trồng trọng điểm chưa xuất hiện biến động mới, tiếp tục duy trì trong khoảng 136.500-140.500 đồng/kg.
Đắk Nông thuộc tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ vị trí cao nhất với 140.500 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ở mức 138.500 đồng/kg.
Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, giá tiêu tiếp tục được thu mua ở mức 137.000 đồng/kg. Gia Lai và Bình Phước thuộc Đồng Nai cùng đứng ở mức 136.500 đồng/kg, thấp nhất trong các vùng được khảo sát.
Tại Gia Lai, giá tiêu xô duy trì mức 136.500 đồng/kg, không thay đổi so với ngày trước đó. Bình Phước cũng giữ nguyên mức giá này.
Như vậy, toàn bộ các địa phương khảo sát đều không ghi nhận điều chỉnh mới, trong khi khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất vẫn là 4.000 đồng/kg. Thị trường hồ tiêu trong nước đang tiếp tục duy trì trạng thái ổn định sau nhịp tăng hồi đầu tháng 10.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu tại Ấn Độ cũng chưa ghi nhận thay đổi mới khi tính theo Rupee/tạ.
Cụ thể, tiêu GARBLED tiếp tục đứng ở mức 71.400 Rupee/tạ, quy đổi khoảng 199.742 đồng/kg. Loại UNGARBLED duy trì 69.400 Rupee/tạ, tương đương khoảng 194.147 đồng/kg, trong khi loại Gram/lít giữ ở 68.400 Rupee/tạ, tương đương khoảng 191.349 đồng/kg.
Việc giá tiêu tại Ấn Độ không thay đổi cho thấy thị trường nước này vẫn tương đối ổn định, chưa xuất hiện tín hiệu tăng hoặc giảm rõ rệt.
Giá cà phê hôm nay tăng nhẹ, Robusta vượt 3.500 USD/tấn
Giá cà phê hôm nay 6/10 tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 93.499-94.000 đồng/kg, trong đó nhiều địa phương tăng 200 đồng/kg so với phiên liền trước.
Đắk Nông thuộc tỉnh Lâm Đồng đang thu mua cà phê ở mức cao nhất 94.000 đồng/kg, không thay đổi so với phiên trước. Trong khi đó, Đắk Lắk tăng 200 đồng/kg lên 94.000 đồng/kg.
Tại Gia Lai, giá cà phê cũng tăng 200 đồng/kg, lên 94.000 đồng/kg. Lâm Đồng tăng 200 đồng/kg, lên 93.499 đồng/kg.
Như vậy, mặt bằng giá cà phê trong nước tiếp tục duy trì quanh ngưỡng 94.000 đồng/kg. Trong ngắn hạn, nguồn cung Việt Nam được dự báo chưa tăng mạnh khi lượng tồn kho vụ cũ đã ở mức thấp, còn cà phê vụ mới chưa được đưa ra thị trường trên diện rộng.
Việt Nam đã bước vào niên vụ cà phê 2026-2027, tuy nhiên nguồn cung dự kiến tăng dần khi hoạt động thu hoạch diễn ra mạnh hơn trong thời gian tới. Vì vậy, diễn biến giá trong nước sẽ tiếp tục phụ thuộc vào lượng cà phê thực tế được đưa ra thị trường từ Tây Nguyên cùng biến động trên các sàn quốc tế.
Trên thị trường xuất khẩu, cà phê Robusta loại 2, tỷ lệ 5% đen và vỡ, đang được chào bán với mức cộng 200 USD/tấn so với hợp đồng LIFFE kỳ hạn tháng 11.
Trên sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 1,96%, tương đương 68 USD/tấn, lên 3.537 USD/tấn. Đây là mức tăng đáng chú ý, đưa giá Robusta lên vùng cao hơn 3.500 USD/tấn.
Trong khi đó, hợp đồng Robusta kỳ hạn tháng 1/2027 cũng nằm trong vùng 3.431-3.561 USD/tấn theo diễn biến được ghi nhận.
Tại New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 3/2027 tăng 1,96%, tương đương 5,5 US cent/pound, lên 286 US cent/pound.
Cả Robusta và Arabica đều tăng trong phiên gần nhất, cho thấy thị trường quốc tế đang có tín hiệu tích cực hơn. Dù vậy, nguồn cung vụ mới từ Việt Nam và diễn biến xuất khẩu Robusta của các nước sản xuất lớn vẫn sẽ là những yếu tố có thể tác động đáng kể đến giá trong thời gian tới.
Giá lúa gạo hôm nay ít biến động, Jasmine bán lẻ giảm
Giá lúa gạo hôm nay 6/10 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung đi ngang do nguồn hàng về ít, nhu cầu thu mua yếu và giao dịch tại nhiều địa phương khá trầm lắng. Riêng gạo thơm Jasmine tại thị trường bán lẻ giảm 500 đồng/kg.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động 8.750-8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 ở mức 8.700-8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động 9.300-9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200-9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500-7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng dao động khoảng 7.550-9.050 đồng/kg. Tấm thơm ở mức 8.900-9.050 đồng/kg, trong khi giá cám dao động 7.550-7.750 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo nhìn chung đứng giá. Riêng gạo thơm Jasmine giảm 500 đồng/kg, xuống 16.500-17.500 đồng/kg.
Các mặt hàng còn lại duy trì ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000-22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm 15.500-16.000 đồng/kg.
Gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; gạo thường dao động 14.000-15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 15.000-16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động 15.500-16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục không đổi. Giá nếp 3 tháng khô dao động 9.600-9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300-7.500 đồng/kg; nếp IR 5625 tươi cũng ở mức 7.300-7.500 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 tăng 100 đồng/kg, dao động 6.100-6.300 đồng/kg. Lúa tươi Đài Thơm 8 cũng tăng 100 đồng/kg, lên 6.100-6.300 đồng/kg.
Lúa tươi OM 5451 giảm 50 đồng/kg, dao động 6.000-6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 34 giảm 100 đồng/kg, còn 5.700-5.800 đồng/kg. Giá lúa tươi IR 50404 dao động 5.800-6.000 đồng/kg.
Tại các địa phương, lúa Thu Đông giao dịch ít, giá lúa vững. Tại An Giang, nguồn lúa Hè Thu đã vãn đồng, trong khi lúa Thu Đông có giá ít biến động.
Tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau, giao dịch mua bán mới ít, giá lúa nhìn chung ổn định.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đứng giá so với cuối tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm dao động 371-375 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 515-519 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 440-445 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo tiếp tục biến động. Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm giảm 4 USD/tấn, xuống 455-459 USD/tấn; gạo 100% tấm giảm 1 USD/tấn, dao động 381-385 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm dao động 382-386 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm tăng 3 USD/tấn, lên 326-330 USD/tấn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
