Chuyển từ xử lý sự cố sang phòng ngừa nguy cơ
Là địa phương có quy mô tiêu thụ thực phẩm lớn nhất cả nước với hàng triệu suất ăn được cung cấp mỗi ngày, TP.HCM đang thay đổi phương thức quản lý an toàn thực phẩm theo hướng chủ động hơn. Mục tiêu không chỉ dừng ở việc phát hiện và xử lý vi phạm sau khi xảy ra ngộ độc, mà tập trung nhận diện sớm các nguy cơ trong toàn bộ quá trình sản xuất, vận chuyển, chế biến và phân phối thực phẩm.
Định hướng này được cụ thể hóa trong Kế hoạch số 315/KH-UBND ngày 22-6-2026 của UBND TP.HCM về phòng ngừa ngộ độc thực phẩm trên địa bàn năm 2026.
Theo kế hoạch, thành phố sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ giám sát nguy cơ, lấy mẫu kiểm nghiệm, cảnh báo sớm, truy xuất nguồn gốc đến tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm nhằm giảm thiểu các vụ ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm.
Phạm vi thực hiện được triển khai trên toàn thành phố, tập trung vào những lĩnh vực có nguy cơ cao như cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể, đơn vị cung cấp suất ăn sẵn, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, khu chế xuất và các điểm kinh doanh thức ăn đường phố.
Điểm đáng chú ý của kế hoạch là yêu cầu các cơ quan quản lý không chỉ kiểm tra sản phẩm cuối cùng mà còn giám sát toàn bộ chuỗi cung ứng để phát hiện sớm những yếu tố có thể gây mất an toàn thực phẩm.
Theo đó, việc kiểm soát sẽ được thực hiện từ khâu nguyên liệu đầu vào, điều kiện bảo quản, vận chuyển, nhiệt độ lưu giữ thực phẩm, quy trình chế biến, phòng ngừa nhiễm chéo giữa thực phẩm sống và chín cho đến việc lưu mẫu thức ăn và bảo đảm vệ sinh đối với dụng cụ, thiết bị chế biến.
Cách tiếp cận này được đánh giá là phù hợp với xu hướng quản lý an toàn thực phẩm hiện đại khi chuyển trọng tâm từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa ngay từ đầu, giúp giảm nguy cơ phát sinh các vụ ngộ độc quy mô lớn.
Tăng lấy mẫu kiểm nghiệm, mở rộng truy xuất nguồn gốc
Bên cạnh hoạt động giám sát tại các cơ sở, TP.HCM sẽ đẩy mạnh công tác lấy mẫu và kiểm nghiệm đối với các nhóm thực phẩm có nguy cơ cao.
Các chỉ tiêu phân tích tập trung vào vi sinh vật gây bệnh, các yếu tố hóa lý, phụ gia thực phẩm, chất cấm và các tác nhân có thể gây ngộ độc hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Một số nhóm thực phẩm được ưu tiên giám sát gồm thủy sản có nguy cơ hình thành Histamine do bảo quản không đúng quy trình; các sản phẩm chế biến từ thịt như chả lụa, patê, thịt nguội dễ phát sinh vi sinh vật; thực phẩm sử dụng trứng, bơ có nguy cơ nhiễm Salmonella; nước đá dùng liền, nước uống đóng chai và các loại thức ăn đường phố.
Hoạt động lấy mẫu sẽ được triển khai tại nhiều địa điểm khác nhau, trong đó tập trung vào các chợ đầu mối, vùng cung ứng thực phẩm, cơ sở chế biến quy mô lớn cũng như các đơn vị cung cấp suất ăn cho số lượng lớn người sử dụng.
Không chỉ kiểm nghiệm, thành phố còn tăng cường phân tích dữ liệu để xây dựng hệ thống cảnh báo nguy cơ theo từng nhóm sản phẩm và từng thời điểm trong năm. Những giai đoạn có nguy cơ cao như mùa nắng nóng, mưa bão, các dịp lễ, tết, khai giảng năm học hoặc thời điểm nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh sẽ được giám sát chặt chẽ hơn.
Đối với các bếp ăn tập thể, bếp ăn trường học, bệnh viện, khu công nghiệp và cơ sở cung cấp suất ăn sẵn, hoạt động hậu kiểm sẽ được thực hiện thường xuyên. Những đơn vị có dấu hiệu vi phạm, từng xảy ra sự cố hoặc có phản ánh từ người dân sẽ được đưa vào diện kiểm tra chuyên đề hoặc kiểm tra đột xuất.
Theo kế hoạch, các trường hợp vi phạm quy định về an toàn thực phẩm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời, những sản phẩm không bảo đảm chất lượng sẽ bị ngăn chặn lưu thông trên thị trường. Thành phố cũng tiếp tục công khai thông tin các cơ sở vi phạm nhằm nâng cao tính răn đe và tăng tính minh bạch trong công tác quản lý.
Cùng với các giải pháp trên, TP.HCM tiếp tục đẩy mạnh xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc thực phẩm bằng công nghệ số. Trước đó, thành phố đã triển khai kế hoạch áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với thịt heo, thịt gia cầm và trứng gia cầm giai đoạn 2026-2030.
Theo định hướng này, quá trình từ chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến phân phối sẽ từng bước được quản lý trên nền tảng dữ liệu số, giúp cơ quan quản lý theo dõi xuyên suốt chuỗi cung ứng, đồng thời tạo điều kiện để người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra thông tin về nguồn gốc sản phẩm trước khi lựa chọn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

