Thị trường mở rộng, sầu riêng dẫn sóng
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả đạt hơn 6 tỷ USD, tăng gần 25% so với cùng kỳ. Riêng tháng 8 ước đạt gần 1,3 tỷ USD, tiếp nối tháng 7 khi kim ngạch lần đầu vượt mốc 1 tỷ USD. Với tốc độ hiện nay, ngành hàng đang tiến gần mục tiêu 9-10 tỷ USD trong năm 2026.
Đáng chú ý, đà tăng không chỉ đến từ việc mở rộng sản lượng mà ngày càng gắn với sự dịch chuyển của nhu cầu thị trường. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 58,9% kim ngạch rau quả Việt Nam. Trong 7 tháng, xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc đạt gần 3 tỷ USD, tăng 33%; Hoa Kỳ đạt hơn 361 triệu USD, tăng 14,3%.
Sầu riêng vẫn là mặt hàng dẫn dắt ở vị trí dẫn đầu, trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng gần 1,5 tỷ USD, tăng hơn 44%; riêng Trung Quốc chiếm hơn 95%, tương đương khoảng 1,38 tỷ USD và tăng gần 50%. Từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam, mở thêm một thị trường tiêu thụ lớn cho mặt hàng này.
Theo ông Nguyễn Đình Tùng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, việc mở cửa thị trường thời gian qua đang tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng. Ông cho rằng bưởi là một sản phẩm có tiềm năng lớn nhờ thời gian bảo quản dài, vùng nguyên liệu ổn định; khi tiếp cận sâu hơn thị trường Trung Quốc, mặt hàng này có thể tạo thêm giá trị đáng kể.
Thực tế, cánh cửa thị trường đang tiếp tục mở, khi Bưởi của Việt Nam đã có lô hàng đầu tiên sang Australia từ tháng 4/2026; Việt Nam và Trung Quốc đã ký nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với bưởi và chanh tươi. Hoa Kỳ cũng dự kiến công bố cho phép nhập khẩu chanh leo Việt Nam trong năm nay, trong khi Nhật Bản đang xem xét mở cửa với bưởi.
Như vậy, lợi thế của ngành rau quả hiện nay không chỉ nằm ở một vài mặt hàng tỷ USD mà ở việc danh mục sản phẩm và thị trường đang được mở rộng đồng thời. Đây là điểm khác biệt đáng kể so với nhiều ngành hàng nông sản vẫn phụ thuộc vào một vài thị trường hoặc biến động giá quốc tế.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào Trung Quốc vẫn là vấn đề cần tính đến. Với tỷ trọng gần 60%, bất kỳ thay đổi nào về tiêu chuẩn kiểm dịch, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc hay nhu cầu tiêu dùng của thị trường này đều có thể ảnh hưởng trực tiếp tới doanh nghiệp và giá nông sản trong nước. Việc Tổng cục Hải quan Trung Quốc chấp thuận thêm 18 phòng kiểm nghiệm của Việt Nam, nâng tổng số cơ sở được công nhận lên 50, được xem là tín hiệu tích cực giúp tăng năng lực kiểm tra các chỉ tiêu an toàn thực phẩm và giảm nguy cơ ách tắc trong mùa cao điểm.
Từ xuất khẩu tươi sang cuộc đua giá trị gia tăng
Nếu sầu riêng đang tạo lực kéo về kim ngạch thì chế biến sâu đang mở ra hướng tăng trưởng bền vững hơn cho toàn ngành. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, tỷ trọng sản phẩm chế biến trong xuất khẩu rau quả đã tăng từ 29,33% trong 4 tháng đầu năm 2025 lên 35,82% trong cùng kỳ năm 2026. Sự dịch chuyển này giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào mùa vụ, kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị sản phẩm.
Đây là hướng đi mà nhiều doanh nghiệp đang đẩy mạnh, trong đó Nafoods Group đang chủ yếu tập trung vào các sản phẩm trái cây chế biến, đặt mục tiêu doanh thu năm 2026 đạt 3.000 tỷ đồng, tăng 45% so với năm 2025, đồng thời định hướng mở rộng thị trường, đầu tư công nghệ và xây dựng chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ.
Thực tế thị trường cho thấy dư địa còn rất lớn, cùng một loại nguyên liệu, sản phẩm tươi thường chịu giới hạn bởi thời gian bảo quản, chi phí logistics và mùa vụ; trong khi nước ép cô đặc, puree, trái cây sấy, đông lạnh hay các sản phẩm chế biến có thể tiếp cận nhiều thị trường hơn và giảm áp lực phải bán ngay trong thời gian thu hoạch.
Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngành rau quả không chỉ cần tăng sản lượng mà phải chuyển mạnh sang sản xuất xanh, chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nâng tỷ lệ chế biến và kiểm soát chất lượng từ đầu vào. Đây cũng là điều kiện để ngành tiến tới mục tiêu 10 tỷ USD thay vì phụ thuộc vào một vài “mùa vàng” của sầu riêng hay các loại trái cây chủ lực.
Ông Nguyễn Đình Tùng cho rằng điểm then chốt là phải quản lý mã số vùng trồng và vật tư đầu vào chặt chẽ hơn. Ông ví mã số vùng trồng như “sổ đỏ” của một khu sản xuất, bởi khi xảy ra vấn đề, cơ quan quản lý có thể truy xuất và khoanh vùng thay vì để sự cố ảnh hưởng đến cả ngành. Doanh nghiệp cũng phải tăng năng lực kiểm nghiệm để tránh tình trạng hàng hóa bị ùn ứ đúng thời điểm chính vụ.
Trong khi, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, chỉ ra một loạt điểm nghẽn cần xử lý, từ quy trình cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói còn phức tạp, liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp thiếu bền vững đến nguy cơ giả mạo mã số, sử dụng hóa chất không đúng quy định. Theo ông, đây là những rủi ro có thể trực tiếp làm mất thị trường nếu không được kiểm soát tốt.
Một thách thức khác là logistics. Doanh nghiệp xuất khẩu trái cây tươi phụ thuộc rất lớn vào thời gian vận chuyển. Vina T&T cho biết các bất ổn địa chính trị và gián đoạn hàng hải có thể khiến thời gian vận chuyển tới châu Âu hoặc bờ Đông Hoa Kỳ kéo dài thêm 10-15 ngày, làm tăng chi phí và gây khó cho những mặt hàng có thời gian bảo quản ngắn.
Bởi vậy, mở rộng thị trường thôi chưa đủ. Ngành rau quả cần đồng thời giải bài toán vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, logistics, chế biến và thương hiệu. Đây cũng là cơ sở để giảm sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.
Một tín hiệu tích cực là Việt Nam đang bắt đầu có những sản phẩm xây dựng được phân khúc riêng. Trường hợp bưởi da xanh Bến Tre cạnh tranh tại Mỹ bằng chất lượng thay vì giá rẻ, hay dừa Việt Nam từng bước gia tăng thị phần ở Mỹ và Trung Quốc. Theo đó, Việt Nam hoàn toàn có thể hướng tới một số thương hiệu trái cây mang tính quốc gia, thay vì chỉ xuất khẩu theo tên của từng doanh nghiệp.
Đến ngày 30/8/2026, cả nước đã có gần 10.300 mã số vùng trồng và gần 1.900 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu nhiều loại quả tươi sang Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản và các thị trường khác. Quy mô này cho thấy nền tảng hạ tầng thương mại của ngành đã được cải thiện đáng kể, nhưng quản lý và duy trì chất lượng mới là yếu tố quyết định khả năng giữ thị trường lâu dài.
Rau quả đang nổi lên như một “đầu kéo” mới của xuất khẩu nông sản, với mức tăng gần 25% sau 8 tháng và hàng loạt thị trường tiếp tục mở cửa. Tuy nhiên, chặng đường từ 6 tỷ lên 10 tỷ USD sẽ khó chỉ dựa vào sầu riêng hay tăng sản lượng. Lợi thế dài hạn sẽ thuộc về doanh nghiệp kiểm soát được vùng nguyên liệu, đáp ứng tiêu chuẩn, chế biến sâu, đa dạng thị trường và xây dựng được thương hiệu. Khi đó, rau quả Việt Nam không chỉ xuất khẩu nhiều hơn mà còn có khả năng giữ lại phần giá trị lớn hơn trong chuỗi.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
