Kinh tế số tạo thêm động lực mới cho thị trường lao động

Trong quý I/2026, các ngành kinh tế số lõi thu hút 1,55 triệu lao động, chiếm 2,94% tổng số lao động có việc làm của cả nước. Đây là tỷ trọng lao động trong ngành kinh tế số lõi cao nhất trong quý I của giai đoạn 2024-2026 (Quý I/2024 là 2,42% ; quý I/2025 là 2,57% và quý I/2026 là 2,94%).

Thị trường lao động ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực

Kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, tăng trưởng việc làm toàn cầu có xu hướng chậm lại. Trong quý I/2026, thị trường lao động Việt Nam vẫn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Quy mô lực lượng lao động và số người có việc làm giảm so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước, phù hợp với quy luật của quý đầu năm. Thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm được kiểm soát; tỷ lệ lao động phi chính thức giảm so với cùng kỳ năm trước.

Theo Cục Thống kê, quý I/2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 53,6 triệu người, giảm 232,9 nghìn người so với quý trước và tăng 687,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động giảm so với quý trước là phù hợp quy luật của thị trường lao động, đặc biệt do ảnh hưởng của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, tuy nhiên xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước vẫn được duy trì rõ nét.

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 68,3%, tăng nhẹ 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, cho thấy mức độ gắn kết của người dân với thị trường lao động tiếp tục được củng cố. Đây là tín hiệu quan trọng phản ánh niềm tin vào cơ hội việc làm và khả năng thu hút lao động của nền kinh tế.

Số người có việc làm trong quý I/2026 đạt 52,5 triệu người, tăng 656,8 nghìn người, tương ứng tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động có việc làm khu vực thành thị là 20,6 triệu người, chiếm 39,2%, tăng 587,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 31,9 triệu người, chiếm 60,8%, tăng 69,3 nghìn người.

Lao động có việc làm tăng ở cả khu vực thành thị và nông thôn, trong đó khu vực thành thị ghi nhận mức tăng mạnh hơn. Điều này phản ánh xu hướng phục hồi và mở rộng hoạt động kinh tế tại khu vực đô thị diễn ra tích cực hơn, đồng thời cho thấy quá trình chuyển dịch lao động từ nông thôn sang thành thị và gia tăng nhu cầu việc làm trong các ngành công nghiệp, dịch vụ có năng suất lao động cao hơn đang diễn ra rõ nét.

Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, đây là một trong những điểm sáng nổi bật của thị trường lao động quý I/2026. So với cùng kỳ năm trước, lao động có việc làm chuyển dịch từ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sang khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vưc dịch vụ.

Kinh tế số tạo thêm động lực mới cho thị trường lao động
Ảnh minh họa

Đây là xu hướng phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa của nền kinh tế. Lao động có việc làm khu vực dịch vụ đạt 21,5 triệu người, chiếm tỷ trọng cao nhất 41,0%, tăng 0,3 điểm phần trăm (tương ứng tăng 426,2 nghìn người) so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 17,7 triệu người, chiếm 33,7%, tăng 0,4 điểm phần trăm (tương ứng tăng 417,9 nghìn người); khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 13,3 triệu người, chiếm 25,3%, giảm 0,7 điểm phần trăm (tương ứng giảm 187,4 nghìn người).

Đặc biệt, một số ngành ghi nhận mức tăng lao động ấn tượng so với cùng kỳ năm trước như ngành xây dựng tăng 9,7%; ngành vận tải, kho bãi tăng 9,3%; ngành lưu trú, ăn uống tăng 4,8%.  Thực tế này phản ánh sự phục hồi rõ nét của các ngành gắn với đầu tư, lưu thông hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, nhờ đó tạo động lực tích cực cho thị trường lao động. Những ngành này không chỉ phục hồi mạnh mà còn đóng vai trò quan trọng trong lan tỏa cơ hội việc làm sang các lĩnh vực liên quan.

Kinh tế số lõi góp phần mở rộng cơ hội việc làm

Sự phát triển của kinh tế số lõi góp phần mở rộng cơ hội việc làm, đặc biệt trong các ngành sản xuất phần cứng (sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học). Trong quý I/2026, các ngành kinh tế số lõi thu hút 1,55 triệu lao động, chiếm 2,94% tổng số lao động có việc làm của cả nước. Đây là tỷ trọng lao động trong ngành kinh tế số lõi cao nhất trong quý I của giai đoạn 2024-2026 (Quý I/2024 là 2,42% ; quý I/2025 là 2,57% và quý I/2026 là 2,94%).

Mặc dù chiếm tỷ trọng chưa lớn, xu hướng gia tăng tỷ trọng lao động trong các ngành kinh tế số cho thấy nền kinh tế đang từng bước chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ và đổi mới sáng tạo, mở ra nhiều cơ hội việc làm chất lượng cao trong tương lai.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,6%, tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện, đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động. Bên cạnh đó, khả năng thích ứng của người lao động với các ngành nghề mới, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ và dịch vụ hiện đại, đang dần được nâng cao, góp phần cải thiện năng suất lao động.

Một xu hướng tích cực khác là tỷ lệ lao động phi chính thức giảm 2,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy thị trường lao động đang dịch chuyển theo hướng chính thức hóa với nhiều việc làm ổn định hơn, có hợp đồng và được bảo đảm an sinh xã hội. Sự cải thiện này không chỉ nâng cao chất lượng việc làm mà còn củng cố nền tảng cho sự phát triển bền vững của thị trường lao động trong dài hạn.

Thu nhập bình quân tháng của người lao động quý I/2026 đạt 9,0 triệu đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này diễn ra trong bối cảnh lạm phát được kiểm soát, qua đó giúp cải thiện thu nhập thực tế và nâng cao đời sống người lao động. Đáng chú ý, thu nhập của người lao động tăng ở tất cả các khu vực kinh tế, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng mạnh nhất với 13,1% ; tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,4% và khu vực dịch vụ tăng 7,1%. Diễn biến này cho thấy sự cải thiện đồng đều về thu nhập giữa các khu vực, góp phần thu hẹp chênh lệch và nâng cao đời sống của người lao động.

Thu nhập của lao động làm công hưởng lương đạt 10,0 triệu đồng/tháng, tiếp tục là lực đẩy quan trọng đối với tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức 2,21%, gần như không biến động so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị tiếp tục duy trì dưới ngưỡng 3%, phù hợp với mục tiêu điều hành của Chính phủ.

Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở mức 1,68%, giảm nhẹ so với cùng kỳ, cho thấy hiệu quả sử dụng lao động đang được cải thiện.

Ngoài ra, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng duy trì ở mức khoảng 4%, thấp hơn nhiều so với giai đoạn dịch bệnh, phản ánh thị trường lao động đã phục hồi đáng kể.

Trong quý I/2026, thị trường lao động Việt Nam đang trên đà phục hồi tích cực với nhiều điểm sáng nổi bật: Lao động có việc làm gia tăng, thu nhập cải thiện, chất lượng lao động nâng lên và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực. Mặc dù vẫn còn những thách thức, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chưa ổn định, nhưng những kết quả đạt được là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và thúc đẩy phát triển bền vững trong thời gian tới. Việc tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và mở rộng các ngành kinh tế mới sẽ là động lực then chốt cho thị trường lao động Việt Nam trong các quý tiếp theo.

Tin khác
Giao dịch logistics “lai” đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu và chứng từ
Giao dịch logistics “lai” đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu và chứng từ

Chuyển đổi số đang thúc đẩy ngành logistics nhưng mô hình kết hợp giữa chứng từ giấy và giao dịch điện tử cũng làm gia tăng rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp cần kiểm soát dữ liệu, xác thực chứng từ và xác lập rõ thứ tự ưu tiên để hạn chế tranh chấp.

TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet
TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet

TP Hồ Chí Minh đang nghiên cứu phát triển các mô hình outlet quy mô lớn, kết hợp mua sắm, dịch vụ, giải trí và du lịch, nhằm tăng sức hút điểm đến và nâng mức chi tiêu của du khách.

FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế
FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế

Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh khi sản xuất, hạ tầng và vị trí trong chuỗi cung ứng khu vực ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế, lợi thế về chi phí, thị trường và vị trí địa lý đang phải đi cùng một yêu cầu ngày càng rõ: rút ngắn khoảng cách từ quyết định đầu tư đến khi dự án có thể vận hành thực tế.

Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh
Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh

Xuất khẩu dệt may 7 tháng đầu năm 2026 đạt 27,02 tỷ USD, tăng 2,67% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, hàng may mặc chỉ tăng 0,70%, thấp hơn nhiều so với xơ sợi, vải và phụ liệu. Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh bằng giá, chất lượng và tiến độ giao hàng, mà còn cần kiểm soát tốt nguyên liệu, năng lượng, phát thải và truy xuất nguồn gốc.

Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế
Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế

Theo Savills Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn quốc tế ngày càng lớn, lợi thế của Việt Nam không chỉ nằm ở nền tảng sản xuất hay vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực. Hạ tầng ngày càng hoàn thiện, môi trường pháp lý minh bạch và khả năng đưa dự án vào vận hành hiệu quả đang trở thành những yếu tố quan trọng để chuyển hóa tăng trưởng thành dòng vốn đầu tư dài hạn.

An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí
An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí

Giá dầu neo ở mức cao, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng cùng loạt dự án khai thác, khí - LNG và lọc hóa dầu đang mở ra chu kỳ đầu tư mới cho ngành dầu khí Việt Nam. Dòng vốn được kỳ vọng lan tỏa trên toàn chuỗi, từ thượng nguồn đến hạ nguồn, trong bối cảnh nguồn cung trong nước chịu áp lực suy giảm và nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng.

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế
Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 đề xuất chuyển mạnh sang cơ chế giá thị trường, đồng thời siết điều kiện đối với thương nhân đầu mối và tinh gọn hệ thống phân phối.

Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm
Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm

Việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đang được đặt ra nhằm giảm chi phí tuân thủ, tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi các lớp tiền kiểm được thu hẹp, yêu cầu về hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc và chế tài xử lý phải được nâng lên để tránh tạo khoảng trống quản lý, đặc biệt với những sản phẩm tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc