Hệ thống logistics nội địa đang gặp nhiều

Kết cấu hạ tầng logistics của cả 5 phương thức vận tải (đường bộ, đường biển, đường sắt, đường thủy nội địa và đường không), mặc dù thời gian qua Chính phủ đã có những chính sách ưu tiên phát triển nhưng chưa phát triển đồng bộ và còn bộc lộ nhiều yếu kém.

Bắt đầu từ năm 1990, khái niệm logistics lần đầu xuất hiện ở thị trường Việt Nam. Trải qua 30 năm phát triển, thực trạng logistics nội địa Việt Nam hiện nay đã có nhiều cải thiện đáng kể. Mặc dù còn nhiều tồn đọng nhưng đã dần đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế xã hội.

Theo thống kê, hiện nay trên cả nước có gần 1000 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics. Đây là một con số khá ấn tượng và các doanh nghiệp mới vẫn không ngừng được thành lập.

Tuy nhiên, có một thực trạng là đa phần các công ty logistics này đều hoạt động với quy mô nhỏ lẻ. Số lượng doanh nghiệp làm đại lý cho các tập đoàn logistics từ nước ngoài là rất nhiều. Hơn nữa, với hoạt động sản xuất kinh doanh và thương mại ở 63 tỉnh thành, thì con số này vẫn chưa đủ để đáp ứng được nhu cầu thị trường.

Chưa phát triển đồng bộ và còn nhiều yếu kém

Hệ thống logistics của một quốc gia được xác định có bốn trụ cột chính bao gồm: Cơ chế; Chính sách điều chỉnh; Kết cấu hạ tầng logistics; Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics.

Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống logistics được đánh giá đang gặp phải những rào cản. Thể hiện trước hết là kết cấu hạ tầng logistics của cả 5 phương thức vận tải (đường bộ, đường biển, đường sắt, đường thủy nội địa và đường không). Thời gian qua Chính phủ đã có những chính sách ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng logistics, nhưng chưa phát triển đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu vận tải đa phương thức, phát triển gia tăng của chuỗi cung ứng và dịch vụ logistics nhất là đối với hàng nông hải sản, hoa quả tươi xuất khẩu. Điều này làm cho chi phí logistics của nước ta còn ở mức cao (tương đương 16,8% GDP) so với thế giới (10, 7%).

Cùng với hạ tầng cứng thì vấn đề hạ tầng mềm hiện nay cũng bộc lộ không ít những khó khăn, hạn chế. Theo con số thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), khoảng 46% trong số 600 hội viên của VLA hiện nay ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động logistics, chủ yếu là các dịch vụ khai báo hải quan, quản lý kho bãi, cảng biển, giao nhận vận tải, thanh toán, theo dõi hành trình xe tải.

Rào cản thứ hai có thế kể đến, hiện nay cả nước mới có khoảng 4.000 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics quốc tế và nội địa, trong đó có trên 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp xuyên quốc gia, số lượng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tích hợp (3PL và 4PL) chưa nhiều và đủ mạnh cạnh tranh được với các Doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trên thị trường Việt Nam. Sự hợp tác, kết nối giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics (nhà sản xuất, chủ hàng hóa xuất nhập khẩu) còn nhiều vấn đề cần kịp thời tháo gỡ. Trung tâm logistics chưa phát triển, nhất là trung tâm logistics mang tính chất vùng để tập trung hàng hóa và phục vụ trực tiếp cho hàng nông sản, thủy sản sau thu hoạch và xuất nhập khẩu…

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics là hai trụ cột trong hệ thống logistics quốc gia. Vì vậy, sự liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam đóng một vai trò mang tính chất quyết định trong sự thành công của hoạt động logistics nước ta, vì đây là yếu tố con người.

Hiện nay, tuy có nhiều chuyển biến tích cực trong thời gian qua, nhưng sự liên kết giữa hai trụ cột này còn nhiều vấn đề cần cải thiện để góp phần làm giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất nhập khẩu của nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và việc thực hiện các hiệp định FTA thế hệ mới, nhất là các hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP và sắp tới là Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vì thịnh vượng (IPEF).

Rào cản liên kết này có nhiều nguyên nhân. Nhưng trước hết là chưa có sự nhận thức đúng đắn về vai trò của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics. Ở đâu đó vẫn còn nhận thức là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics chỉ là khâu trung gian ăn hoa hồng và làm tăng chi phí trong tiến trình xuất nhập khẩu mà chưa thấy dịch vụ logistics là một dịch vụ gia tăng làm nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa xuất nhập khẩu.

Từ đó dịch vụ thuê ngoài chưa được các doanh nghiệp xuất nhập khẩu coi trọng. Dịch vụ thuê ngoài càng cao thì trình độ cung cấp dịch vụ logistics càng phát triển. Dịch vụ này càng cao thì doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu càng tập trung tốt vào việc nâng cao chất lượng hàng hóa và công tác xuất nhập khẩu. Và cũng từ nhận thức đó hiện nay vẫn còn trên 90% hàng hóa xuất khẩu của nước ta bán theo hình thức FOB và hàng hóa nhập khẩu theo hình thức C&F.

Chính vì vậy các dịch vụ logistics ngoài do chủ hàng nước ngoài quyết định và họ giành cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ của họ là chính. Hiện nay, Bộ Công thương và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam đang nỗ lực cải thiện thình thức mua bán và mối quan hệ này. Khi có quan hệ hai bên được tốt thì các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics sẽ hỗ trợ rất nhiều cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nhất là trong khâu giao nhận vận tải sao cho hợp lý với giá thành thấp nhất có thể.

Những giải pháp cấp bách

Để tháo gỡ nút thắt cần có những giải pháp toàn diện với quyết tâm thực hiện cao trên cả 4 trụ cột của hệ thống logistics nước ta. Trong đó các giải pháp liên quan đến phát triển kết cấu hạ tầng logistics cả phần cứng và nhất là phần mềm là cấp bách hiện nay. Phát triển đường cao tốc kết nối giữa các trung tâm sản xuất, xuất nhập khẩu kết nối với các cảng biển nước sâu ở hai đầu đất nước như Chính phủ đã đề ra dến năm 2030 đạt 3.000km đường cao tốc. Trong phát triển kết cấu hạ tầng cần chú trọng kết hợp công tư, huy động tối đa nguồn vốn tư nhân như các địa phương đã huy động để phát triển sân bay, đường cao tốc, bến cảng, kho bãi… Phát huy tối đa vai trò của vận tải đa phương thức, vận tải đường thủy nội địa và đường sắt liên vận.

Cần đầu tư phát triển các trung tâm logistics hoàn thiện phục vụ hàng nông sản với những dịch vụ chủ yếu như vận tải, kho hàng, bảo quản hàng hóa và các dịch vụ giá trị gia tăng như khai báo hải quan, kiểm nghiệm, chiếu xạ hàng hóa, kho lạnh….

Nâng cao chất lượng dịch vụ logistics, chất lượng nguồn nhân lực logistics, đẩy mạnh ứng dụng thành tựu Cách mạng Công nghiệp 4.0, hiện đại hóa trong hoạt động sản xuất, chế biến và hoạt động dịch vụ logistics.

Phát triển các Hiệp hội logistics ở các tỉnh thành, khu vực kinh tế trọng điểm để hỗ trợ việc phát triển các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cả về số lượng và chất lượng, là tiếng nói của doanh nghiệp phản biện chính sách phát triển logistics và kinh tế. Phát triển nhanh các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics trọn gói 3PL, 4PL; đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác chặt chẽ và có hiệu quả giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và các doanh nghiệp chủ hàng nhằm tận dụng dịch vụ logistics gia tăng đi đôi với đẩy mạnh hợp tác quốc tế có hiệu quả.

Tin liên quan
Tin khác
TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet
TP Hồ Chí Minh kỳ vọng tạo cú hích mới từ mô hình outlet

TP Hồ Chí Minh đang nghiên cứu phát triển các mô hình outlet quy mô lớn, kết hợp mua sắm, dịch vụ, giải trí và du lịch, nhằm tăng sức hút điểm đến và nâng mức chi tiêu của du khách.

FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế
FDI vào Việt Nam: Hạ tầng tốt chưa đủ, tốc độ triển khai mới là lợi thế

Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh khi sản xuất, hạ tầng và vị trí trong chuỗi cung ứng khu vực ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế, lợi thế về chi phí, thị trường và vị trí địa lý đang phải đi cùng một yêu cầu ngày càng rõ: rút ngắn khoảng cách từ quyết định đầu tư đến khi dự án có thể vận hành thực tế.

Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh
Dệt may tìm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi xanh

Xuất khẩu dệt may 7 tháng đầu năm 2026 đạt 27,02 tỷ USD, tăng 2,67% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, hàng may mặc chỉ tăng 0,70%, thấp hơn nhiều so với xơ sợi, vải và phụ liệu. Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh bằng giá, chất lượng và tiến độ giao hàng, mà còn cần kiểm soát tốt nguyên liệu, năng lượng, phát thải và truy xuất nguồn gốc.

Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế
Savills chỉ ra lợi thế cạnh tranh tiếp theo của Việt Nam trong cuộc đua hút vốn quốc tế

Theo Savills Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn quốc tế ngày càng lớn, lợi thế của Việt Nam không chỉ nằm ở nền tảng sản xuất hay vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực. Hạ tầng ngày càng hoàn thiện, môi trường pháp lý minh bạch và khả năng đưa dự án vào vận hành hiệu quả đang trở thành những yếu tố quan trọng để chuyển hóa tăng trưởng thành dòng vốn đầu tư dài hạn.

An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí
An ninh năng lượng kích hoạt chu kỳ đầu tư mới ngành dầu khí

Giá dầu neo ở mức cao, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng cùng loạt dự án khai thác, khí - LNG và lọc hóa dầu đang mở ra chu kỳ đầu tư mới cho ngành dầu khí Việt Nam. Dòng vốn được kỳ vọng lan tỏa trên toàn chuỗi, từ thượng nguồn đến hạ nguồn, trong bối cảnh nguồn cung trong nước chịu áp lực suy giảm và nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng.

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế
Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026: Thị trường linh hoạt hơn, doanh nghiệp lớn có thêm lợi thế

Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu 2026 đề xuất chuyển mạnh sang cơ chế giá thị trường, đồng thời siết điều kiện đối với thương nhân đầu mối và tinh gọn hệ thống phân phối.

Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm
Cắt giảm thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phải gắn với hậu kiểm

Việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đang được đặt ra nhằm giảm chi phí tuân thủ, tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi các lớp tiền kiểm được thu hẹp, yêu cầu về hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc và chế tài xử lý phải được nâng lên để tránh tạo khoảng trống quản lý, đặc biệt với những sản phẩm tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp.

M&A Việt Nam tháng 7: Dòng vốn tập trung vào bất động sản, hạ tầng và khai khoáng
M&A Việt Nam tháng 7: Dòng vốn tập trung vào bất động sản, hạ tầng và khai khoáng

Thị trường M&A Việt Nam trong tháng 7/2026 ghi nhận 31 thương vụ được công bố, trong đó 22 giao dịch có giá trị được công bố hoặc ước tính, với tổng quy mô khoảng 228 triệu USD. Bất động sản, logistics và hạ tầng cùng khai khoáng là những lĩnh vực dẫn dắt về giá trị giao dịch, trong khi nhà đầu tư trong nước thực hiện phần lớn các thương vụ quy mô lớn.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc