Giá cà phê tiếp tục neo ở vùng cao
Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên tiếp tục duy trì ở vùng cao, phổ biến 96.300 - 97.000 đồng/kg. So với cuối tuần trước, giá cà phê tại một số địa phương tăng nhẹ 100 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê nhân xô được ghi nhận khoảng 96.800 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg so với cuối tuần trước. Tại Lâm Đồng, giá tăng 100 đồng/kg lên 96.300 đồng/kg, tiếp tục là mức thấp nhất trong nhóm khảo sát.
Trong khi đó, Đắk Nông duy trì mức 97.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.
Như vậy, sau những phiên biến động khá mạnh trong những ngày đầu tháng 8, giá cà phê trong nước đang có xu hướng ổn định trở lại. Mặt bằng giá hiện vẫn ở mức cao và không còn cách quá xa mốc 100.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, diễn biến giữa các loại cà phê có sự phân hóa. Tại sàn London, hợp đồng cà phê robusta giao tháng 9/2026 tăng 5 USD/tấn, tương đương 0,1%, lên 3.787 USD/tấn. Ngược lại, hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 8 USD/tấn, tương đương 0,2%, xuống 3.767 USD/tấn.
Tại New York, giá cà phê arabica diễn biến tích cực hơn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 3,4 US cent/pound, tương đương 1%, lên 335,55 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 tăng 1,3 US cent/pound, tương đương 0,4%, lên 315,9 US cent/pound.
Đáng chú ý, niên vụ 2026-2027 của Việt Nam dự kiến bắt đầu từ tháng 10, nhưng nguồn cà phê vụ mới được dự báo phải đến khoảng tháng 11 mới xuất hiện trên thị trường với khối lượng đáng kể.
Theo thông tin thị trường, giá chào mua cà phê giao tháng 12 hiện có sự chênh lệch khá lớn giữa các thương nhân. Có đơn vị đưa ra mức khoảng 91.000 đồng/kg, trong khi một số bên khác chào tới 96.000 đồng/kg. Khoảng cách 5.000 đồng/kg cho cùng thời điểm giao hàng cho thấy đánh giá của các bên về triển vọng nguồn cung và giá cà phê cuối năm đang có sự khác biệt.
Một số thương nhân được cho là yêu cầu người bán đặt cọc khoảng 10 - 20% giá trị hợp đồng nhằm tăng mức độ bảo đảm thực hiện giao hàng.
Việc ký hợp đồng giao xa trong bối cảnh giá cà phê biến động mạnh tiềm ẩn rủi ro cho cả bên mua và bên bán. Nếu giá thị trường tăng mạnh vượt mức giá đã thỏa thuận, người bán có thể chịu áp lực khi thực hiện hợp đồng; ngược lại, nếu giá giảm sâu, bên mua có thể gặp bất lợi.
Trong thời gian tới, thời tiết tại Tây Nguyên, sản lượng thực tế của niên vụ 2026-2027, lượng hàng tồn trong nước và diễn biến giá robusta trên sàn London sẽ tiếp tục là những yếu tố quan trọng đối với mặt bằng giá.
Giá tiêu giảm 2.000 đồng/kg, mất mốc 140.000 đồng/kg
Trái với cà phê, giá tiêu hôm nay tại thị trường trong nước đồng loạt giảm 2.000 đồng/kg, đưa mặt bằng giá xuống còn 136.000 - 139.000 đồng/kg.
Tại Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá tiêu giảm 2.000 đồng/kg xuống 139.000 đồng/kg, vẫn là mức cao nhất tại các địa phương được khảo sát. Tại Đắk Lắk, giá tiêu cũng giảm 2.000 đồng/kg, xuống 138.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP.HCM, cùng giảm về 136.000 đồng/kg, thấp nhất thị trường.
Như vậy, sau phiên điều chỉnh, vùng giá 140.000 đồng/kg tạm thời không còn xuất hiện trên thị trường nội địa. Chênh lệch giữa mức giá cao nhất và thấp nhất hiện là 3.000 đồng/kg.
Đáng chú ý, diễn biến giảm trong nước diễn ra trong bối cảnh giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam và một số nước sản xuất lớn vẫn duy trì ổn định hoặc tăng.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia tăng 62 USD/tấn so với cuối tuần trước, lên 6.822 USD/tấn. Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tăng 200 USD/tấn lên 5.900 USD/tấn. Giá tiêu đen Malaysia giữ nguyên ở mức 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l duy trì ở mức 5.970 USD/tấn, trong khi loại 550 g/l đạt 6.050 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 23 USD/tấn lên 9.340 USD/tấn. Tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam tăng 50 USD/tấn lên 8.400 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Malaysia giữ nguyên ở mức 12.200 USD/tấn.
Hoạt động xuất khẩu tiếp tục là điểm sáng của ngành hồ tiêu Việt Nam. Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 168.429 tấn hồ tiêu, thu về 1,087 tỷ USD.
So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu tăng 16,1%, trong khi kim ngạch tăng 10,1%. Như vậy, chỉ sau 7 tháng, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đã vượt mốc 1 tỷ USD.
Trong dài hạn, ngành hồ tiêu Việt Nam cũng đứng trước yêu cầu nâng cao chất lượng thay vì phụ thuộc vào việc mở rộng diện tích. Các yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững tại các thị trường nhập khẩu khiến việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và tăng liên kết giữa doanh nghiệp với người trồng trở nên quan trọng hơn.
Giá lúa gạo ổn định, giao dịch đầu tuần ít
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay 10/8 ít biến động, hoạt động mua bán được ghi nhận khá trầm lắng. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 dao động 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa OM 5451 ở mức 6.700 - 6.800 đồng/kg.
Lúa tươi Đài Thơm 8 và OM 18 cùng dao động 6.900 - 7.000 đồng/kg, trong khi lúa OM 34 ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu, IR 504 dao động 9.700 - 9.800 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.750 - 9.850 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, giá dao động khoảng 7.700 - 8.700 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.600 - 8.700 đồng/kg, còn cám dao động 7.700 - 7.850 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đứng giá. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.
Gạo Jasmine dao động 16.500 - 17.500 đồng/kg; gạo Đài thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500 - 14.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đứng giá so với cuối tuần trước. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm dao động 367 - 371 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm ở mức 500 - 510 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán 541 - 545 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm dao động 450 - 454 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 377 - 381 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động 361 - 365 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 292 - 296 USD/tấn.
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, trong tháng 7/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 505.000 tấn gạo, trị giá 252,8 triệu USD.
Lũy kế 7 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo đạt 5,5 triệu tấn, thu về 2,64 tỷ USD, tăng 0,5% về lượng nhưng giảm 6,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực của gạo Việt Nam. Trong đó, Philippines chiếm 44,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, tiếp đến là Trung Quốc với 19,1% và Ghana với 9,6%.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
