Giá vàng thế giới giảm, vàng trong nước đi ngang
Giá vàng thế giới sáng 14/8 giảm về dưới mốc 4.400 USD/ounce, hiện niêm yết quanh 4.357,5 USD/ounce. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, chưa tính thuế, phí, giá vàng thế giới tương đương khoảng 138,3 triệu đồng/lượng.
Thị trường vàng chịu tác động từ diễn biến đồng USD, dữ liệu kinh tế Mỹ và những tín hiệu mới về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Trong phiên giao dịch ngày 13/8 tại Mỹ, giá vàng giảm khi số liệu về giá sản xuất không tạo thêm động lực tăng giá, trong khi nhà đầu tư thận trọng chờ báo cáo doanh số bán lẻ.
Theo Bộ Lao động Mỹ, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong tuần kết thúc ngày 8/8 đạt 209.000 đơn, cao hơn mức dự báo 202.000 đơn của giới chuyên gia. Số đơn của tuần trước cũng được điều chỉnh tăng từ 199.000 lên 200.000 đơn. Những dữ liệu này tiếp tục được thị trường theo dõi để đánh giá sức khỏe nền kinh tế Mỹ và triển vọng chính sách lãi suất của Fed.
Theo các chuyên gia, triển vọng vàng vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng chính sách tiền tệ của Fed và những bất ổn địa chính trị. Tuy nhiên, vùng 4.500 USD/ounce đang được xem là ngưỡng kháng cự đáng chú ý, trong khi lạm phát Mỹ và diễn biến giá năng lượng vẫn có thể tạo áp lực lên thị trường.
Trong nước, giá vàng miếng sáng 14/8 gần như không thay đổi. Các thương hiệu SJC, Bảo Tín Mạnh Hải, DOJI, PNJ và Phú Quý cùng niêm yết vàng miếng ở mức 141,3 triệu đồng/lượng mua vào và 144,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Thị trường vàng nhẫn diễn biến phân hóa hơn. Vàng nhẫn SJC được giao dịch ở mức 140,8 - 143,8 triệu đồng/lượng, không thay đổi so với phiên trước. Vàng nhẫn PNJ tăng 100.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, lên 140,6 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra giữ ở mức 144,2 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn Phú Quý tiếp tục ở mức 141,3 - 144,3 triệu đồng/lượng.
Ở chiều ngược lại, vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải giảm 300.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, còn 140,2 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn DOJI cũng giảm 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống mức 141,5 - 145,5 triệu đồng/lượng.
Giá bạc tiếp tục biến động
Giá bạc thế giới sáng 14/8 được niêm yết ở mức 65,57 USD/ounce, tiếp tục biến động trong bối cảnh thị trường thận trọng trước các dữ liệu kinh tế mới của Mỹ và triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Diễn biến của giá bạc đang chịu tác động đáng kể từ lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ và kỳ vọng về lãi suất. Lợi suất trái phiếu Mỹ hạ nhiệt gần đây phần nào tạo điều kiện hỗ trợ đối với kim loại quý, trong đó có bạc, bởi khi lợi suất giảm, chi phí cơ hội của việc nắm giữ các tài sản không sinh lãi như bạc cũng giảm theo. Tuy nhiên, đà tăng của bạc chưa thực sự rõ ràng do thị trường vẫn đánh giá khả năng Fed duy trì lập trường thận trọng trong cuộc họp tháng 9.
Các dữ liệu lạm phát mới nhất của Mỹ cũng chưa tạo ra cú hích đủ mạnh cho giá bạc. Theo số liệu được công bố, CPI tháng 7 của Mỹ tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này nhìn chung không tạo bất ngờ lớn đối với thị trường, đồng thời cho thấy lạm phát vẫn cao hơn mục tiêu 2% của Fed. Điều này khiến kỳ vọng về một sự chuyển hướng chính sách tiền tệ nhanh chóng vẫn chưa được củng cố rõ ràng.
Theo nhóm phân tích Kitco, dữ liệu lạm phát mới nhất chưa đủ sức tạo áp lực để Fed nhanh chóng chuyển sang quan điểm cứng rắn hơn. Tuy nhiên, do lạm phát vẫn cao hơn mục tiêu, khả năng Fed tiếp tục duy trì cách tiếp cận thận trọng đối với lãi suất vẫn được thị trường tính đến. Đây là yếu tố khiến giá bạc có thể tiếp tục biến động mạnh trong ngắn hạn thay vì hình thành một xu hướng tăng ổn định.
Trong nước, giá bạc cũng đang duy trì ở mức cao. Tại Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý ở Hà Nội, bạc được niêm yết ở mức 2,289 triệu đồng/lượng mua vào và 2,360 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại một số địa điểm giao dịch khác ở Hà Nội, giá bạc phổ biến quanh 1,969 - 2,037 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, tại TP Hồ Chí Minh, giá bạc được ghi nhận khoảng 1,973 - 2,040 triệu đồng/lượng.
Giá thép trong nước ổn định
Thị trường thép trong nước ngày 14/8 tiếp tục duy trì mặt bằng giá ổn định. Giá thép xây dựng phổ biến trong khoảng 14.440 - 15.150 đồng/kg đối với các sản phẩm CB240 và D10 CB300.
Tại miền Bắc, thép Việt Đức có giá khoảng 14.750 đồng/kg đối với cả thép cuộn CB240 và thép thanh vằn D10 CB300. Thép Hòa Phát duy trì quanh 15.120 đồng/kg, trong khi thép Việt Sing, Việt Ý và VAS dao động trong khoảng 14.640 - 14.850 đồng/kg tùy sản phẩm.
Tại miền Trung, thép Việt Đức có giá cao nhất khoảng 15.150 đồng/kg đối với thép cuộn CB240, trong khi thép Hòa Phát và VAS dao động quanh 14.640 - 15.020 đồng/kg.
Tại miền Nam, thép Hòa Phát được niêm yết khoảng 14.920 - 15.020 đồng/kg, thép VAS quanh 14.640 - 14.750 đồng/kg, còn thép TungHo dao động từ 14.440 - 14.750 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá thép và quặng sắt đang chịu tác động trái chiều từ nhu cầu tiêu thụ và nguồn cung nguyên liệu. Hợp đồng quặng sắt giao tháng 1/2027 trên Sàn giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) giảm 0,21%, xuống 705 nhân dân tệ/tấn, trong khi hợp đồng chuẩn giao tháng 9 trên sàn Singapore gần như đi ngang ở mức 95,65 USD/tấn.
Tại Trung Quốc, biên lợi nhuận của các nhà máy thép tại Đường Sơn đã thu hẹp mức thua lỗ so với tuần trước, dù vẫn lỗ hơn 100 nhân dân tệ/tấn. Diễn biến này phần nào hỗ trợ nhu cầu quặng sắt trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, áp lực từ thị trường thép vẫn hiện hữu khi xuất khẩu thép của Trung Quốc suy yếu. Theo Mysteel, tổng lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc trong tuần kết thúc ngày 10/8 giảm xuống 2,06 triệu tấn, thấp hơn 447.900 tấn so với tuần trước và giảm 331.600 tấn so với cùng kỳ năm trước.
Các sản phẩm liên quan cũng ghi nhận diễn biến kém tích cực, với giá than cốc trên DCE giảm 1,2%, giá cốc giảm 0,89%. Trên SHFE, giá thép xây dựng giảm 0,3%, thép cuộn cán nóng giảm 0,34%, thép cuộn giảm 0,18% và thép không gỉ giảm 0,96%.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
