Giá cao su thế giới
Kết thúc tuần giao dịch, thị trường cao su trên sàn Tocom Tokyo biến động không đồng nhất. Cụ thể, hợp đồng cao su RSS3 giao tháng 5/2026 giảm nhẹ 0,10 Yên/kg xuống còn 396 Yên/kg. Hợp đồng tháng 6/2026 tăng 2,10 Yên/kg lên 399,10 Yên/kg, trong khi kỳ hạn tháng 7/2026 giảm 3,40 Yên/kg xuống 403,30 Yên/kg.
Ngược lại, trên sàn SHFE Thượng Hải, giá cao su tự nhiên tiếp tục duy trì đà tăng ở các kỳ hạn giao dịch. Hợp đồng tháng 5/2026 tăng 115 Nhân dân tệ/tấn lên 17.880 Nhân dân tệ/tấn. Kỳ hạn tháng 6/2026 tăng 110 Nhân dân tệ/tấn lên 17.965 Nhân dân tệ/tấn, còn hợp đồng tháng 8/2026 tăng 55 Nhân dân tệ/tấn lên mức 17.920 Nhân dân tệ/tấn.
Tại Singapore, giá cao su TSR20 trên sàn SGX cũng tăng đồng loạt, dao động quanh vùng 220 - 221 cent/kg. Đây là thị trường phản ánh khá sát nhu cầu nguyên liệu phục vụ ngành sản xuất lốp xe toàn cầu, đặc biệt tại Trung Quốc và Đông Nam Á.
Theo Hiệp hội Các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), thị trường cao su toàn cầu năm 2026 tiếp tục đối mặt nguy cơ thiếu hụt nguồn cung năm thứ 6 liên tiếp. Tổ chức này dự báo sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu năm nay đạt khoảng 15,3 triệu tấn, tăng 2,2%, trong khi nhu cầu tiêu thụ có thể lên tới 15,6 triệu tấn.
Lo ngại nguồn cung suy giảm do thời tiết bất lợi tại các quốc gia sản xuất chủ lực như Thái Lan, Indonesia và Malaysia tiếp tục hỗ trợ giá cao su. Ngoài ra, giai đoạn từ tháng 2 đến tháng 5 hằng năm là mùa thay lá của cây cao su, khiến sản lượng khai thác giảm mạnh.
Bên cạnh đó, giá dầu thế giới tăng trở lại cũng góp phần nâng đỡ thị trường cao su tự nhiên khi cao su tổng hợp chịu tác động trực tiếp từ giá dầu thô.
Triển vọng phục hồi của ngành ô tô châu Á, đặc biệt là sự tăng trưởng mạnh của xe điện và xe năng lượng mới tại Trung Quốc, cũng đang thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ cao su và lốp xe trong thời gian gần đây.
Giá cao su trong nước
Tại thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn nhìn chung tiếp tục đi ngang.
Công ty Cao su Bà Rịa hiện thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg đối với mủ có độ TSC từ 25 đến dưới 30. Giá mủ đông DRC (35 - 44%) duy trì ở mức 14.600 đồng/kg, còn mủ nguyên liệu ở mức 18.100 đồng/kg.
Công ty Phú Riềng tiếp tục giữ giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC và mủ nước ở mức 420 đồng/TSC.
Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước dao động khoảng 458 - 463 đồng/TSC đối với loại 2 đến loại 1, trong khi mủ đông tạp được thu mua quanh mức 404 - 459 đồng/DRC.
Công ty Bình Long duy trì giá thu mua mủ nước tại nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg, còn giá thu mua tại đội sản xuất ở mức 422 đồng/TSC/kg. Giá mủ tạp DRC 60% hiện được thu mua quanh mức 14.000 đồng/kg.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
