Vai trò của Khu vực kinh tế tư nhân được đặt vào vị trí tương xứng
Tại hội thảo "40 năm Đổi Mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế", Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, sau gần 40 năm Đổi mới, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã đi từ chỗ gần như không có địa vị pháp lý rõ ràng đến vị thế là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
Trước đây, muốn mở công ty phải qua rất nhiều cơ quan, xin nhiều chữ ký, đóng nhiều con dấu, mất nhiều tháng và tốn kém lớn. Quyền kinh doanh bị giới hạn trong phạm vi cơ quan nhà nước cho phép.
Đến nay, Việt Nam đã có hơn một triệu doanh nghiệp đang hoạt động chính thức và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh. Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, tạo ra phần lớn việc làm, và một số tập đoàn tư nhân đã có vị trí đáng kể trên thị trường trong nước cũng như bắt đầu mở rộng ra khu vực và thế giới.
Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị năm 2025 xác định kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất" và là “lực lượng tiên phong” trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phải mất gần 40 năm, vai trò của khu vực này mới được đặt vào vị trí tương xứng, khu vực doanh nghiệp tư nhân cũng đã tạo ra nhiều kết quả nổi bật. Trong top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, số doanh nghiệp tư nhân tăng đáng kể. Việt Nam có 76 công ty nằm trong top 500 Đông Nam Á. Trong công nghiệp chế tạo, THACO xây dựng hệ sinh thái sản xuất ô tô và cơ khí lớn; VinFast trở thành nhà sản xuất ô tô điện đầu tiên của Việt Nam, niêm yết trên Nasdaq và triển khai bán xe ở nhiều thị trường; Hòa Phát vươn lên thành nhà sản xuất thép hàng đầu Đông Nam Á.
Trong công nghệ, FPT trở thành một trong những doanh nghiệp công nghệ thông tin lớn của khu vực, đầu tư mạnh vào chuyển đổi số, AI và bán dẫn. Trong hàng tiêu dùng, Vinamilk, Masan xây dựng thương hiệu có sức cạnh tranh khu vực. Trong hạ tầng và bất động sản, Vingroup, Sun Group, BRG và nhiều tập đoàn khác đã đầu tư quy mô lớn, góp phần thay đổi diện mạo nhiều vùng kinh tế.
Khu vực tư nhân cũng thể hiện sức chống chịu tốt trong đại dịch, phản ứng nhanh trước đứt gãy chuỗi cung ứng, đồng thời tham gia ngày càng tích cực vào an sinh, giáo dục, y tế và phát triển cộng đồng. Đáng chú ý nhất là một thế hệ doanh nhân đã gây dựng sự nghiệp từ hai bàn tay trắng trong điều kiện thể chế chưa hoàn thiện và nhiều định kiến xã hội.
Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn còn nhiều nghịch lý. Doanh nghiệp đông nhưng chưa mạnh, năng động nhưng chưa sâu, đóng góp lớn nhưng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu còn khiêm tốn.
Cơ cấu ngành nghề mất cân đối, khi phần lớn doanh thu của nhóm doanh nghiệp tư nhân lớn nhất đến từ tài chính và bất động sản, trong khi công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng thấp. Gần 97% doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn có quy mô dưới 10 lao động, bên cạnh đó còn khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể.
Quy mô quá nhỏ khiến doanh nghiệp khó đầu tư đổi mới công nghệ. Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam có liên hệ với chuỗi giá trị toàn cầu giảm mạnh. Năng suất lao động của khu vực ngoài nhà nước thấp hơn nhiều so với khu vực nhà nước và FDI. Đầu tư cho R&D còn hạn chế, và nhiều doanh nghiệp vẫn vận hành theo mô hình gia đình, thiếu minh bạch và quản trị chuyên nghiệp.
Trong giai đoạn tới, để các tập đoàn tư nhân có thể dẫn dắt nền kinh tế, cần chuyển dịch mạnh từ bất động sản và tài chính sang sản xuất và công nghệ; đẩy mạnh đầu tư vào R&D và đổi mới sáng tạo; xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ; phát triển thị trường vốn chiều sâu; nâng cao năng lực quản trị, chuyên nghiệp hóa; và có chiến lược quốc tế hóa.
Đồng thời, cần chú ý đến an toàn thể chế, bảo vệ quyền tài sản, hạn chế hình sự hóa quan hệ kinh tế; tránh bẫy phụ thuộc FDI; giảm rủi ro từ mô hình tăng trưởng đa ngành thiếu chiều sâu; và hình thành những doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị trong từng ngành công nghiệp.
Tóm lại, 40 năm qua là hành trình trưởng thành rất lớn của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Nhưng mục tiêu đến 2030 và tầm nhìn 2045 không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp hay quy mô GDP, mà là hình thành một lớp doanh nghiệp tư nhân có năng lực công nghệ, khả năng dẫn dắt ngành và vị thế trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, để thực sự chuyển từ vai trò tham gia tăng trưởng sang vai trò dẫn dắt hiện đại hóa đất nước.
Cam kết cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế
Theo Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, kinh tế tư nhân là một trong các động lực quan trọng nhất. Khối kinh tế tư nhân thực tế đóng góp 50% GDP và giải quyết nhiều việc làm. Tuy nhiên, cấu trúc tổng thể kinh tế tư nhân thì ngoài hệ thống các doanh nghiệp (hơn 1 triệu đơn vị) song chủ yếu doanh nghiệp vừa và nhỏ và 5 triệu hộ kinh doanh.
Về mặt chủ trương, mong muốn có những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh nhưng gần 3 năm qua chúng ta vẫn chưa làm được. Cơ chế Nhà nước đặt hàng các doanh nghiệp tư nhân triển khai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia còn chậm. Đây là vấn đề cơ quan quản lý và các bộ ngành đều quan tâm. Để gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, cần sớm hoàn thiện toàn bộ các cơ chế chính sách, trong đó có cơ chế đặt hàng, định mức… để khơi thông nguồn lực tư nhân.
Hơn nữa, cần có sự liên kết của các doanh nghiệp tư nhân trong nước, đặc biệt bối cảnh cấu trúc có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để thúc đẩy liên kết cần thay đổi tư duy xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp.
Theo ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng nhà nước, nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, không thể không nhắc tới vai trò "đầu tàu" của các tập đoàn kinh tế. Dù là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo hay khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, các tập đoàn kinh tế thời gian qua luôn khẳng định vị thế là xương sống và lực lượng dẫn dắt của nền kinh tế.
Các đơn vị này không chỉ đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP và thu ngân sách Nhà nước, tạo ra hàng triệu việc làm, mà còn trực tiếp triển khai các công trình, dự án trọng điểm quốc gia; xây dựng và đưa thương hiệu của các ngành sản xuất, dịch vụ, thương mại Việt Nam vươn tầm quốc tế, qua đó ngày càng củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Đứng từ góc độ ngành ngân hàng, hệ thống các tổ chức tín dụng luôn đồng hành, bứt phá và đóng góp vào sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nói riêng cũng như tăng trưởng kinh tế nói chung.
Đến ngày 31/12/2025, hệ thống ngân hàng gồm 127 tổ chức tín dụng với tổng tài sản gần 28,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với cuối năm 2024 và tăng gần 2.000 lần sau gần 40 năm. Huy động vốn tăng 15,42% so với cuối năm 2024, tương đương mức tăng gần 1.300 lần sau gần 40 năm.
Trong đó, nhiều ngân hàng đã đạt quy mô lớn và có thứ hạng cao trên thị trường quốc tế. Thứ hai, hệ thống pháp luật về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng liên tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng cung ứng nguồn vốn lớn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và hỗ trợ sản xuất kinh doanh.
Đối với các tập đoàn kinh tế, ngành ngân hàng luôn xác định đây là nhóm khách hàng truyền thống, quy mô lớn, có uy tín, sẵn sàng được cấp tín dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đầu tư các dự án lớn có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng, bảo đảm tiến độ và hiệu quả.
Ngành ngân hàng cam kết tiếp tục điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, tín dụng và ngoại hối; bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hùng cường và thịnh vượng.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
