Vốn đầu tư ra nước ngoài tăng 4,5 lần
Đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đang có một năm tăng tốc khá mạnh. Theo ssố liệu 7 tháng năm 2026 cho thấy có 106 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam đạt 1,17 tỷ USD, gấp 2,9 lần cùng kỳ. Ngoài ra, 23 lượt dự án tăng vốn thêm khoảng 1,19 tỷ USD, gấp 9,2 lần. Tổng cộng, vốn đầu tư ra nước ngoài cấp mới và điều chỉnh đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần cùng kỳ năm 2025.
Dòng tiền cũng đang trải rộng trên nhiều lĩnh vực. Vận tải, kho bãi dẫn đầu với khoảng 601,7 triệu USD, chiếm 25,5%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt khoảng 585,8 triệu USD; nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 487,4 triệu USD. Xây dựng thu hút gần 209 triệu USD vốn đầu tư ra nước ngoài.
Về địa bàn, doanh nghiệp Việt đã đầu tư tại 35 quốc gia và vùng lãnh thổ trong 7 tháng. Lào dẫn đầu với 638,3 triệu USD, tiếp đến là Campuchia 449,9 triệu USD và Indonesia 308,6 triệu USD. Ấn Độ, Philippines, Kazakhstan và Anh cũng nằm trong nhóm tiếp nhận lượng vốn đáng kể.
Đáng chú ý, một năm trước, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trong 7 tháng mới đạt 528,5 triệu USD. Sự gia tăng nhanh chóng của dòng vốn năm nay khiến câu chuyện doanh nghiệp lấy tiền ở đâu để triển khai dự án trở nên đáng quan tâm hơn.
Đúng thời điểm đó, Thông tư 32/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động cho vay để đầu tư ra nước ngoài chính thức có hiệu lực từ 18/8/2026. Văn bản được ban hành ngày 30/6.
Theo quy định mới, mức cho vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận dựa trên nhu cầu vốn, dự án đầu tư, khả năng tài chính của khách hàng, giới hạn cấp tín dụng cũng như khả năng nguồn vốn của tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên, một giới hạn đáng chú ý được đặt ra: mức cam kết cho vay tối đa của một tổ chức tín dụng để thực hiện dự án không được vượt quá 70% vốn đầu tư ra nước ngoài của khách hàng tại dự án đó.
Doanh nghiệp cũng không thể chia khoản vay sang nhiều ngân hàng để vượt ngưỡng này. Nếu cùng một dự án vay tại nhiều tổ chức tín dụng, tổng mức cam kết cho vay của tất cả các ngân hàng vẫn không được vượt quá 70%.
Có thể hình dung, nếu phần vốn đầu tư ra nước ngoài của một doanh nghiệp tại dự án là 1.000 tỷ đồng thì tổng mức cam kết cho vay từ các ngân hàng theo giới hạn này tối đa là 700 tỷ đồng. Phần vốn còn lại doanh nghiệp phải bố trí từ những nguồn hợp pháp khác.
Điều đó tạo ra một “bộ lọc” tài chính ngay trước khi doanh nghiệp dùng đòn bẩy tín dụng để mở rộng hoạt động ra bên ngoài lãnh thổ.
Ngưỡng 70% cũng không có nghĩa doanh nghiệp mặc nhiên được ngân hàng tài trợ tới mức này. Trong Thông tư đã quy định tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng đáp ứng một loạt điều kiện. Với dự án thuộc diện phải thực hiện thủ tục, khách hàng phải có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài; trường hợp khác phải đáp ứng yêu cầu xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định. Hoạt động đầu tư cũng phải được cơ quan có thẩm quyền tại nước tiếp nhận chấp nhận hoặc cấp phép, hoặc có tài liệu chứng minh quyền hoạt động nếu pháp luật sở tại không quy định việc cấp phép.
Không phải cứ có dự án là vay được 70%
Quan trọng hơn, dự án phải được chính ngân hàng đánh giá là khả thi, khách hàng có khả năng trả nợ và không phát sinh nợ xấu trong 24 tháng liền kề trước thời điểm đề nghị vay vốn.
Một dự án có vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng về lý thuyết có thể được cam kết cho vay tối đa 700 tỷ đồng, nhưng sau khi thẩm định dòng tiền, thị trường, tài sản bảo đảm, năng lực tài chính hay rủi ro tại quốc gia tiếp nhận đầu tư, ngân hàng hoàn toàn có thể quyết định mức thấp hơn.
Thời hạn cho vay cũng không được thiết kế theo một con số cứng. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận dựa trên khả năng trả nợ, khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn của ngân hàng, thời hạn đầu tư của dự án và thời gian còn lại của giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài hoặc giấy tờ tương đương.
Điều này đặc biệt quan trọng với các dự án điện, nông nghiệp, hạ tầng hoặc logistics có vốn lớn và thời gian thu hồi vốn dài.
Ở góc độ quản trị rủi ro, đầu tư ra nước ngoài cũng khác đáng kể so với khoản vay phục vụ một nhà máy trong nước. Ngoài hiệu quả kinh doanh thông thường, ngân hàng còn phải nhìn tới môi trường pháp lý tại quốc gia nhận đầu tư, biến động tỷ giá, khả năng chuyển lợi nhuận về Việt Nam và những thay đổi của thị trường sở tại.
Doanh nghiệp vì vậy có thể phải chứng minh không chỉ mình có một dự án được phép đầu tư, mà còn phải chứng minh dự án đủ sức tạo dòng tiền để trả nợ.
Sự thay đổi này diễn ra khi quy mô đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam tăng rất nhanh. Riêng ba lĩnh vực vận tải – kho bãi, năng lượng và nông, lâm nghiệp – thủy sản đã chiếm hơn 70% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trong 7 tháng. Đây đều là những ngành có thể đòi hỏi lượng vốn ban đầu lớn và thời gian triển khai tương đối dài.
Bởi vậy, câu hỏi với doanh nghiệp từ ngày 18/8 không đơn giản là “ngân hàng có cho vay để đầu tư ra nước ngoài hay không”.
Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp có bao nhiêu vốn tự có, dự án tạo dòng tiền ra sao và ngân hàng sẵn sàng chia sẻ bao nhiêu rủi ro.
Khi dòng vốn đầu tư ra nước ngoài đã đạt 2,36 tỷ USD chỉ trong 7 tháng, giới hạn tín dụng 70% tạo ra một ranh giới khá rõ: doanh nghiệp có thể sử dụng vốn vay để bước ra thị trường quốc tế, nhưng ngân hàng không thể trở thành nguồn vốn gánh gần như toàn bộ một dự án.
Và với những doanh nghiệp muốn mở rộng nhanh bằng đòn bẩy tài chính, chính khả năng huy động phần vốn còn lại có thể trở thành phép thử đầu tiên trước khi dự án thực sự bước qua biên giới.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
