Cuộc giành khách bắt đầu từ từng xã
Trong nhiều năm, thị trường bán lẻ nông thôn chủ yếu được vận hành bởi chợ dân sinh, cửa hàng tạp hóa và các đại lý gia đình. Một cửa hàng chỉ rộng vài chục mét vuông nhưng có thể đáp ứng phần lớn nhu cầu thiết yếu của khu dân cư, từ thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt đến những mặt hàng phục vụ sản xuất.
Mô hình ấy tồn tại dựa trên sự thuận tiện và quan hệ quen biết. Người mua không cần đi xa, có thể gọi điện nhờ mang hàng tới nhà, mua một món có giá trị rất nhỏ, thậm chí ghi nợ đến cuối tháng hoặc sau vụ thu hoạch mới thanh toán.
Tuy nhiên, cấu trúc này đang thay đổi khi các chuỗi bán lẻ hiện đại liên tục mở rộng khỏi khu vực thành thị. Nông thôn hiện không còn được xem là phần thị trường còn lại sau đô thị mà trở thành địa bàn tăng trưởng trọng điểm. Việt Nam có hơn 62,5 triệu người sống ở khu vực nông thôn, chiếm 61,8% dân số, trong khi mức độ hiện diện của các mô hình bán lẻ hiện đại vẫn thấp hơn nhiều so với thành phố.
Sự cải thiện về thu nhập, giao thông, viễn thông và thanh toán điện tử cũng làm thay đổi nhu cầu mua sắm. Người dân không chỉ quan tâm đến giá mà ngày càng chú ý hơn đến nguồn gốc, hạn sử dụng, điều kiện bảo quản và khả năng truy xuất hàng hóa. Đây là lợi thế của các chuỗi có hệ thống cung ứng và quản trị tương đối bài bản.
WinCommerce đặt mục tiêu mở từ 1.000–1.500 cửa hàng trong năm 2026. Trong 5 tháng đầu năm, hệ thống này đã mở ròng 464 cửa hàng, trong đó 374 điểm thuộc mô hình WinMart+ Nông thôn, chiếm 81%. Bách Hóa Xanh cũng tăng tốc mở rộng địa bàn: trong 6 tháng đầu năm, chuỗi mở thêm 632 cửa hàng, nâng tổng số điểm bán lên 3.191 cửa hàng.
Những con số này cho thấy cuộc cạnh tranh bán lẻ đang dịch chuyển đến khu vực gần chợ xã, trường học, khu công nghiệp, cụm dân cư và các tuyến đường liên huyện. Khi một siêu thị mini xuất hiện, tác động đầu tiên thường rơi vào nhóm hàng tiêu dùng nhanh như sữa, mì ăn liền, dầu ăn, nước mắm, bột giặt, đồ uống và bánh kẹo.
Bà Nguyễn Thị Dừa (xã Bình Minh, Hà Nội), cho biết lượng khách đã giảm kể từ khi một siêu thị mini mở gần trung tâm xã. Rõ nhất là vào những ngày chuỗi tổ chức khuyến mại, tặng quà hoặc giảm giá các mặt hàng thiết yếu.
“Có sản phẩm siêu thị bán gần bằng, thậm chí thấp hơn giá chúng tôi nhập vào. Cửa hàng nhỏ không thể giảm theo vì mỗi mặt hàng chỉ lãi vài nghìn đồng. Khách quen vẫn ghé nhưng số lần mua và giá trị mỗi lần đều giảm”, bà Dừa chia sẻ.
Theo chủ cửa hàng này, khó khăn không chỉ nằm ở việc mất một phần khách mà còn ở tốc độ luân chuyển hàng hóa chậm hơn. Nếu nhập nhiều, hàng có thể tồn lâu và chiếm vốn; nhưng nếu nhập ít, cửa hàng lại khó duy trì sự đa dạng để đáp ứng nhu cầu của người mua.
Với khả năng nhập hàng quy mô lớn, chuỗi bán lẻ có điều kiện thương lượng giá, tổ chức khuyến mại và luân chuyển hàng hóa tốt hơn. Họ còn có lợi thế về niêm yết giá, hóa đơn, truy xuất nguồn gốc, không gian mua sắm và thanh toán điện tử. Những chương trình giảm giá, tích điểm hoặc tặng quà thường vượt quá khả năng tài chính của một hộ kinh doanh độc lập.
Dù vậy, lợi thế của chuỗi không đồng nghĩa cửa hàng tạp hóa lập tức mất hết khách. Theo số liệu gần nhất được Bộ Công Thương công bố, Việt Nam có khoảng 1,4 triệu cửa hàng tạp hóa. Kênh bán lẻ truyền thống vẫn chiếm khoảng 67–70% thị trường nội địa trong giai đoạn 2023–2025. Sức bền này đến từ mạng lưới phủ sâu, thời gian phục vụ linh hoạt và khả năng đáp ứng những nhu cầu rất nhỏ, rất nhanh của người dân.
Trong khi đó, ông Nguyễn Công Tân (phường Hà Đông, Hà Nội) cho biết gia đình đang giữ khách bằng cách nhận đơn qua điện thoại, giao tận nhà và cho những người quen ghi nợ. Cửa hàng cũng mở cửa từ sáng sớm đến tối muộn, trong khi siêu thị hoạt động theo khung giờ cố định.
“Người dân vào siêu thị để mua hàng khuyến mại, nhưng khi cần gấp một gói gia vị, vài quả trứng hay chai nước thì vẫn ra tạp hóa. Có người mua vài chục nghìn đồng chúng tôi cũng giao tận nhà. Những khách quen có thể cuối tháng mới thanh toán”, ông Tân nói.
Tạp hóa nông thôn có lợi thế nhờ bán chịu, hiểu nhu cầu từng gia đình và phục vụ linh hoạt. Tuy nhiên, quan hệ quen biết sẽ không đủ giữ khách nếu giá cao, hàng hóa ít và dịch vụ chậm đổi mới. Việc thanh toán QR, bán qua Zalo, giao hàng tận nơi và quản lý tồn kho tốt sẽ giúp tạp hóa giữ chỗ đứng trước sức ép từ các chuỗi bán lẻ.
Tạp hóa không nhất thiết phải biến mất
Sự mở rộng của các chuỗi bán lẻ sẽ tạo sức ép lớn nhưng không đồng nghĩa toàn bộ cửa hàng tạp hóa phải đóng cửa. Kịch bản dễ xảy ra hơn là sự phân hóa giữa những cửa hàng tiếp tục kinh doanh theo cách cũ và những điểm bán chủ động thay đổi.
Nhóm chịu tác động rõ nhất là các cửa hàng nằm gần siêu thị mini, kinh doanh nhiều mặt hàng trùng nhau nhưng không có lợi thế về giá và khuyến mại. Với quy mô nhập hàng nhỏ, tạp hóa thường khó nhận được mức chiết khấu tương đương các chuỗi lớn. Khi doanh nghiệp ưu tiên ngân sách khuyến mại, trưng bày và sản phẩm mới cho các hệ thống hiện đại, khoảng cách về giá nhập có thể tiếp tục nới rộng.
Tạp hóa khi đó phải lựa chọn giữa giảm lợi nhuận để giữ khách hoặc giữ giá bán và chấp nhận mất một phần thị trường. Nếu không kiểm soát tốt tồn kho, chỉ một đợt khuyến mại kéo dài của siêu thị cũng có thể khiến hàng tại cửa hàng nhỏ bán chậm, vốn bị giữ lại trên kệ trong khi lợi nhuận của nhiều mặt hàng thiết yếu vốn không cao.
Tuy nhiên, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh từng nhận định, thu nhập và yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng, nguồn gốc hàng hóa sẽ tạo điều kiện cho siêu thị, cửa hàng tiện lợi phát triển; song kênh bán lẻ truyền thống vẫn giữ được thị trường nhờ thói quen mua sắm của người dân. Điều đó cho thấy cuộc cạnh tranh chưa chắc dẫn đến sự biến mất của tạp hóa, nhưng sẽ buộc mô hình này phải thay đổi.
Trước hết, cửa hàng truyền thống có thể thu hẹp những nhóm hàng phải cạnh tranh trực tiếp với chuỗi, tập trung vào sản phẩm phù hợp nhu cầu địa phương, hàng có quy cách nhỏ hoặc những mặt hàng siêu thị chưa đưa vào danh mục. Gần trường học, khu công nghiệp, làng nghề hay vùng sản xuất nông nghiệp, cơ cấu hàng hóa cũng cần được điều chỉnh theo nhóm khách hàng chủ yếu.
Tạp hóa còn có thể tận dụng vị trí gần khu dân cư và quan hệ cộng đồng để phát triển dịch vụ giao hàng. Việc nhận đơn qua điện thoại, Zalo, thanh toán bằng mã QR và giao hàng trong phạm vi thôn, xóm không đòi hỏi chi phí đầu tư quá lớn nhưng giúp cửa hàng mở rộng phạm vi phục vụ mà không phải thuê thêm mặt bằng.
Một hướng đi khác là trở thành điểm giao nhận hàng hóa, điểm thu hộ theo thỏa thuận với đơn vị cung cấp dịch vụ hoặc đại lý phân phối cho các nhãn hàng. Khi thương mại điện tử tiến sâu về nông thôn, nhu cầu gửi, nhận và hoàn hàng sẽ tạo thêm cơ hội cho những cửa hàng có vị trí thuận lợi, thời gian mở cửa dài và được người dân địa phương tin cậy.
Các hộ kinh doanh cũng có thể tham gia mô hình liên kết hoặc nhượng quyền để sử dụng chung nguồn cung, phần mềm quản lý và chính sách trưng bày của một nhà phân phối hoặc chuỗi bán lẻ. Chủ cửa hàng vẫn trực tiếp vận hành nhưng được hỗ trợ về hàng hóa, công nghệ và cách tổ chức điểm bán.
Dù lựa chọn hướng nào, chuyển đổi không thể chỉ dừng ở việc đặt một mã QR hoặc trang bị máy tính tiền. Cốt lõi là khả năng quản lý dòng tiền, tồn kho, công nợ và lợi nhuận theo từng mặt hàng. Nhiều cửa hàng hiện chưa tách bạch tiền kinh doanh với chi tiêu gia đình, không biết chính xác sản phẩm nào mang lại lợi nhuận hoặc mặt hàng nào thường xuyên tồn đọng.
Bà Lê Hoàng Oanh, Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, cho rằng thanh toán số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giao dịch mà còn tạo nền tảng để tiểu thương mở rộng thị trường và kết nối với nhiều khách hàng hơn. Việc ứng dụng công nghệ vì thế cần được đặt trong quá trình thay đổi toàn diện cách bán hàng, quản lý và chăm sóc khách hàng.
Nếu được sử dụng phù hợp, phần mềm quản lý có thể giúp chủ cửa hàng xác định thời điểm nhập hàng, hạn chế hàng quá hạn và theo dõi công nợ. Dữ liệu bán hàng cũng là cơ sở để lựa chọn danh mục sản phẩm sát nhu cầu, đàm phán với nhà cung cấp và từng bước tiếp cận nguồn vốn chính thức.
Trong khi đó, các chuỗi bán lẻ muốn đứng vững tại nông thôn cũng phải giải một bài toán không đơn giản. Sức mua giữa các địa bàn rất khác nhau, mật độ dân cư thấp hơn đô thị, chi phí vận chuyển lớn và thói quen tiêu dùng mang tính địa phương rõ rệt. Một mô hình thành công tại thành phố chưa chắc có thể được sao chép nguyên vẹn xuống từng xã.
Cửa hàng mới có thể đông khách trong thời gian khai trương nhờ khuyến mại, nhưng khả năng tồn tại lâu dài vẫn phụ thuộc vào doanh thu thường xuyên. Nếu danh mục hàng hóa không sát nhu cầu, giá bán sau khuyến mại không còn hấp dẫn hoặc chi phí vận hành quá cao, chuỗi cũng có nguy cơ phải thu hẹp điểm bán.
Báo cáo thị trường nội địa đầu năm 2026 cho thấy cả nước có 1.293 siêu thị và 276 trung tâm thương mại, bên cạnh 8.274 chợ truyền thống. Gần một nửa số cơ sở thương mại hiện đại vẫn tập trung tại các đô thị lớn, trong khi nhiều khu vực nông thôn, miền núi tiếp tục phụ thuộc vào chợ và các điểm bán truyền thống. Điều này vừa cho thấy dư địa mở rộng của các chuỗi, vừa phản ánh những rào cản về logistics, thanh toán và sức mua tại từng địa bàn.
Siêu thị mini về làng thúc đẩy thị trường bán lẻ hiện đại hơn nhưng cũng gây sức ép lên tạp hóa. Để không bị bỏ lại, các hộ kinh doanh cần được hỗ trợ về vốn, công nghệ, kỹ năng và nguồn hàng. Tạp hóa biết tận dụng sự linh hoạt, niềm tin địa phương và chủ động đổi mới vẫn có thể giữ chỗ đứng.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
