Mở rộng dư địa vốn cho doanh nghiệp
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, cùng với các giải pháp tài khóa của Bộ Tài chính, chính sách tiền tệ đang được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều hành theo hướng linh hoạt hơn nhằm khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tư nhân - động lực quan trọng được xác định trong Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Nghị quyết 68 không chỉ đặt mục tiêu phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân mà còn yêu cầu cải thiện khả năng tiếp cận vốn, giảm chi phí tài chính, tháo gỡ các rào cản thể chế để doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, chính sách tín dụng được xem là một trong những công cụ quan trọng để chuyển hóa các chủ trương thành nguồn lực thực tế cho nền kinh tế.
Nhằm tạo thêm dư địa cho các tổ chức tín dụng, NHNN đã điều chỉnh nhiều quy định theo hướng linh hoạt hơn. Đáng chú ý, tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%, đồng thời quy định về tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) được điều chỉnh theo hướng cho phép tính thêm 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động. Những thay đổi này giúp các ngân hàng có thêm khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án đầu tư, sản xuất và kinh doanh, trong khi vẫn bảo đảm các nguyên tắc quản trị rủi ro.
Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng, các cơ chế trên sẽ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn về vốn cho doanh nghiệp, song không đồng nghĩa với việc nới lỏng điều kiện tín dụng. Các tổ chức tín dụng vẫn phải tuân thủ đầy đủ quy trình thẩm định, đánh giá khả năng trả nợ và kiểm soát chất lượng tín dụng để bảo đảm an toàn hệ thống.
Song song với việc mở rộng dư địa vốn, NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng thương mại duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, đơn giản hóa quy trình cho vay, đẩy mạnh số hóa hoạt động cấp tín dụng và ưu tiên vốn cho các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp chế biến chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi số.
Kết quả điều hành những năm gần đây cho thấy tín dụng tiếp tục đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024. Trong đó, tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 19,11% tổng dư nợ, còn lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,42%. Đáng chú ý, tín dụng dành cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 30,36%, còn công nghiệp hỗ trợ tăng 27,46%, phản ánh xu hướng dòng vốn đang dịch chuyển vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao.
Tạo động lực giúp doanh nghiệp bứt phá và tăng trưởng kinh tế
Không chỉ mở rộng quy mô tín dụng, các ngân hàng thương mại cũng đang chuyển mạnh sang mô hình đồng hành cùng doanh nghiệp thông qua việc thiết kế các gói tín dụng theo từng ngành nghề, giảm thời gian thẩm định và áp dụng công nghệ số trong toàn bộ quy trình cấp vốn.
Theo số liệu mới nhất từ NHNN, tính đến giữa năm 2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã đạt khoảng 16,73 triệu tỷ đồng, tăng 18,71% so với cùng kỳ năm 2024, được xem là mức tăng trưởng khá tích cực trong bối cảnh nền kinh tế đang nỗ lực phục hồi và tăng tốc. Trong đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân tiếp tục là đối tượng được ưu tiên tiếp cận vốn, đi cùng các chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay và hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh.
Một trong những điểm tích cực là mặt bằng lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục duy trì ở mức thấp. Theo NHNN, lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên hiện chỉ khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức trần quy định. Đây là điều kiện quan trọng giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Trong khi các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đã triển khai các chương trình tín dụng chuyên biệt. VietinBank cho biết đã xây dựng các gói tín dụng dành riêng cho doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa với lãi suất từ 5%/năm, đồng thời kết hợp các giải pháp tư vấn tài chính, quản trị dòng tiền và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng như BIDV, Vietcombank, MB, Agribank, Techcombank, VPBank hay HDBank cũng đẩy mạnh cho vay theo chuỗi giá trị, tài trợ chuỗi cung ứng, tín dụng xanh, tín dụng số và các gói vay ưu đãi dành cho doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Thay vì chỉ cung cấp vốn, các ngân hàng đang hướng tới mô hình cung cấp giải pháp tài chính toàn diện, kết hợp thanh toán, quản trị dòng tiền, ngoại hối và ngân hàng số để đồng hành lâu dài cùng doanh nghiệp.
Theo đánh giá của giới chuyên gia, trong bối cảnh dư địa mở rộng tín dụng không còn nhiều khi tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã ở mức cao, yêu cầu đặt ra không phải là tăng tín dụng bằng mọi giá mà là nâng cao chất lượng phân bổ vốn. Dòng tín dụng cần được tập trung vào những doanh nghiệp có khả năng tạo giá trị gia tăng, thúc đẩy xuất khẩu, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Chính sách tín dụng vì vậy phải vừa linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm kiểm soát rủi ro và ổn định hệ thống tài chính.
Trong mục tiêu tăng trưởng hai con số, chính sách tín dụng linh hoạt sẽ tiếp tục là “đòn bẩy”, là “bệ đỡ” quan trọng giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy đầu tư. Khi được kết hợp đồng bộ với chính sách tài khóa, cải cách thể chế theo Nghị quyết 68 và nỗ lực đổi mới của các ngân hàng thương mại, dòng vốn tín dụng sẽ không chỉ hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp mà còn tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững trong giai đoạn mới.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
