Thị trường vẫn nghẽn ở nguồn cung
Thị trường vật liệu xây dựng đang bước vào giai đoạn có nhiều tín hiệu tích cực khi đầu tư công, hạ tầng, xây dựng công nghiệp và dòng vốn FDI tiếp tục tạo lực kéo cho nhu cầu. Tuy nhiên, trong khi một số ngành vật liệu có công suất lớn và chịu áp lực dư cung, nhiều địa phương lại thiếu cát, đá, đất san lấp, khiến giá tăng và tiến độ công trình bị ảnh hưởng.
Bên cạnh đó, sức cầu đã cải thiện đáng kể thời gian gần đây, Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, 7 tháng đầu năm 2026, sản lượng thép thô đạt gần 18 triệu tấn, tăng 28% so với cùng kỳ; thép thành phẩm đạt hơn 21 triệu tấn, tăng 15,4%, còn tiêu thụ đạt hơn 21 triệu tấn, tăng 15,6%.
Với xi măng, 7 tháng đầu năm, toàn ngành sản xuất hơn 70 triệu tấn, tiêu thụ nội địa gần 50 triệu tấn; xuất khẩu xi măng và clinker đạt gần 23 triệu tấn, trị giá gần 841 triệu USD. Đáng chú ý, riêng tháng 7, tiêu thụ nội địa tăng 33% so với cùng kỳ, lên hơn 8 triệu tấn, cho thấy đầu tư công và xây dựng hạ tầng đang chuyển hóa rõ hơn thành nhu cầu vật liệu thực tế.
Ở góc độ rộng hơn, sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2026 tăng gần 12% so với cùng kỳ. Trong đó, sản xuất kim loại tăng hơn 22%, sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng gần 13%; thép cán tăng hơn 23%, thép thanh, thép góc tăng hơn 15%. Những con số này phản ánh năng lực cung ứng của chuỗi vật liệu trong nước đang được củng cố.
Tuy nhiên, tăng sản xuất không đồng nghĩa thị trường đã hết nghẽn. Ngành xi măng vẫn đối diện tình trạng dư thừa công suất khi nguồn cung năm 2025 khoảng 125 triệu tấn, trong khi nhu cầu nội địa chỉ khoảng 75 triệu tấn. Ngược lại, tại một số địa phương, vật liệu san lấp, cát và đá lại thiếu cục bộ.
Tình trạng này thể hiện khá rõ qua diễn biến giá. Theo báo cáo giá thị trường quý II/2026 của Bộ Tài chính, nhóm thép, xi măng, cát… tăng gần 8% so với cùng kỳ năm trước. Giá thép bình quân quý II khoảng 16.575 đồng/kg, tăng 9,42% so với cùng kỳ. Tại Hà Nội, so với quý I, cát xây dựng tăng 5,83%, gạch xây tăng 5,5%, thép tăng 5% và xi măng tăng 2,3%.
Ở Thanh Hóa, một doanh nghiệp xây dựng phản ánh giá đá đã vượt 500.000 đồng/m³, cát hơn 400.000 đồng/m³ và đất san lấp khoảng 200.000 đồng/m³, có loại tăng gần gấp đôi so với năm 2025. Doanh nghiệp cho rằng tình trạng này liên quan tới trữ lượng mỏ hạn chế, khai thác cầm chừng, thủ tục gia hạn giấy phép và những vướng mắc pháp lý.
TS. Nguyễn Trí Hiếu cũng nhận định giá năng lượng và chi phí vận chuyển tăng đang làm giá thành vật liệu đi lên, trong khi nhu cầu từ đầu tư công, nhà ở xã hội và bất động sản phục hồi nhanh hơn khả năng cung ứng của một số nhóm vật liệu.
Như vậy, bài toán của thị trường hiện nay không đơn thuần là “thiếu hay thừa”, mà nằm ở cơ chế phân bổ nguồn lực, khả năng tiếp cận nguyên liệu và mức độ linh hoạt của doanh nghiệp trước biến động cung – cầu.
Không thêm “giấy phép con”
Trong bối cảnh đó, việc Bộ Xây dựng đề xuất xây dựng Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, dự kiến đổi tên thành Luật Vật liệu xây dựng, đang được thị trường đặc biệt quan tâm.
Theo các chính sách đang được Bộ Xây dựng lấy ý kiến, dự thảo luật hướng tới sáu nhóm chính sách lớn, trong đó đáng chú ý là giảm can thiệp hành chính không cần thiết, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động về nguyên liệu, công nghệ và thị trường. Đặc biệt, chiến lược và kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng được định hướng làm công cụ dự báo, định hướng, không trở thành điều kiện để chấp thuận đầu tư hoặc công cụ ấn định công suất, sản lượng doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải được quyền quyết định đầu tư vào sản phẩm mà họ nhìn thấy nhu cầu, với điều kiện đáp ứng các yêu cầu về môi trường, chất lượng, an toàn và pháp luật chuyên ngành. Nếu cơ quan quản lý vừa quy hoạch, vừa quyết định sản phẩm, công suất, nguồn cung thì nguy cơ “xin - cho” và hạn chế cạnh tranh có thể xuất hiện.
Định hướng mới của Bộ Xây dựng là chuyển từ tư duy “quản lý bằng thủ tục” sang “quản lý bằng dữ liệu và rủi ro”. Doanh nghiệp được chủ động lựa chọn, mua bán, nhập khẩu và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu; cơ quan quản lý tập trung theo dõi, dự báo cung - cầu, giá cả, năng lực sản xuất và khả năng vận chuyển.
Đây cũng là hướng phù hợp với thực tế thị trường hiện nay. Khi một địa phương thiếu cát, đá hoặc đất san lấp, vấn đề không nhất thiết nằm ở việc phải có thêm một thủ tục hành chính, mà là làm thế nào để dữ liệu về mỏ, trữ lượng, sản lượng, nhu cầu và năng lực vận chuyển được kết nối, qua đó giúp doanh nghiệp nhanh chóng tìm được nguồn hợp pháp.
Một điểm đáng chú ý khác là dự thảo không tạo thêm một hệ thống ưu đãi, quỹ hay thủ tục xác nhận riêng cho vật liệu mới, vật liệu xanh. Thay vào đó, hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, thương mại hóa được kết nối với các chính sách hiện hành về đầu tư, thuế, tín dụng, đất đai, khoa học - công nghệ và môi trường.
Cách tiếp cận này có thể giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời mở rộng không gian cho các dòng vật liệu mới, vật liệu tái chế, vật liệu nhẹ, vật liệu tiết kiệm năng lượng và vật liệu có hàm lượng công nghệ cao.
Đáng chú ý, Bộ Xây dựng cũng định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung về vật liệu xây dựng, tích hợp thông tin về năng lực sản xuất, sản lượng, nguyên liệu, chất lượng, giá cả, cung - cầu và thị trường. Dữ liệu này có thể được ứng dụng phân tích và AI để dự báo nhu cầu, theo dõi biến động giá, truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ kiểm tra theo mức độ rủi ro.
Đây có thể là “hạ tầng mềm” quan trọng để tháo điểm nghẽn thị trường. Bởi nếu dữ liệu minh bạch, doanh nghiệp có thể chủ động đầu tư; cơ quan quản lý có thể nhận diện sớm nguy cơ thiếu nguồn cung; còn nhà thầu có cơ sở xây dựng giá và kế hoạch thi công sát thực tế hơn.
Tuy nhiên, giới chuyên gia và doanh nghiệp cũng có lý do để thận trọng. Việc bỏ “giấy phép con” chỉ thực sự có ý nghĩa nếu đi cùng với cải cách thủ tục liên quan đến khoáng sản, đất đai, môi trường, đầu tư và vận tải. Nếu một thủ tục được bỏ ở luật vật liệu xây dựng nhưng doanh nghiệp vẫn phải mất nhiều thời gian ở các luật khác để tiếp cận mỏ và đưa vật liệu ra thị trường, nút thắt vẫn còn nguyên.
Thị trường vật liệu xây dựng năm 2026 đang đứng trước một cơ hội lớn từ chu kỳ đầu tư công, hạ tầng, công nghiệp và bất động sản phục hồi. Nhưng cơ hội chỉ chuyển thành tăng trưởng nếu nguồn cung được khơi thông và doanh nghiệp có đủ không gian để đầu tư, cạnh tranh.
Một thị trường hiện đại cần Nhà nước tạo ra luật chơi minh bạch, dữ liệu đầy đủ, tiêu chuẩn rõ ràng và cơ chế kiểm soát rủi ro hiệu quả. Việc “không tạo thêm giấy phép con” khiến chính sách mới không chỉ tháo một nút thắt thủ tục, mà còn có thể mở thêm dư địa đầu tư, thúc đẩy cạnh tranh và đưa thị trường vật liệu xây dựng vận hành đúng hơn theo tín hiệu cung – cầu.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
