Phát biểu tại Hội thảo “Ứng dụng AI và dữ liệu thực tiễn trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm thực phẩm”, ông Lê Anh Hoàng - Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM cho rằng, trí tuệ nhân tạo (AI) đã hiện diện trong mọi mắt xích, từ việc phân tích khẩu vị khách hàng, tối ưu hóa công thức R&D, cho đến việc dự báo xu hướng tiêu dùng trên các sàn thương mại điện tử. Có thể thấy, AI đã trở thành một phần "chất xám" không thể tách rời của doanh nghiệp.
Ứng dụng AI và dữ liệu thực tiễn đã trở thành yếu tố then chốt giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, nhất là đối với ngành lương thực - thực phẩm là một trong bốn ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố, đóng góp khoảng 14 - 15% giá trị sản xuất công nghiệp. Việc ứng dụng này giúp doanh nghiệp phát hiện các mối nguy, quản lý chuỗi cung ứng, dự báo hư hỏng và kiểm soát chất lượng, phân tích xu hướng tiêu dùng của khách hàng.
Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Bá Thanh - Viện trưởng Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm thuộc Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM cho biết, quy mô thị trường AI dành cho ngành thực phẩm dự kiến đạt 18,3 tỷ USD vào năm 2026 và có thể tăng lên mức 84 - 88 tỷ USD vào năm 2030, tương đương tốc độ tăng trưởng kép đạt 39%.
Bên cạnh đó, ngành thực phẩm hiện đang đối mặt với bài toán khó về quy trình phát triển sản phẩm quá dài (từ 18 đến 36 tháng) và chi phí đầu tư lớn khiến doanh nghiệp khó bắt kịp thị hiếu, dẫn đến có tới 80% sản phẩm mới rời thị trường ngay trong năm đầu. Tuy nhiên, khi ứng dụng dữ liệu thực tiễn, doanh nghiệp có thể rút ngắn tới 50% thời gian phát triển sản phẩm, đưa một sản phẩm mới ra thị trường chỉ trong vòng 3 đến 9 tháng và giảm 40% chi phí ở các khâu đánh giá cảm quan. Công nghệ này đã trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp ngành F&B. Nếu đầu tư vào dữ liệu được xem là nền tảng, thì sự kết hợp giữa hệ thống thông minh và năng lực của chuyên gia chính là nhân tố quyết định sự thành công của sản phẩm.
Tiến sĩ Thanh cũng đưa ra khuyến nghị cơ quan quản lý và các hiệp hội như cần xây dựng hơn 50 bộ dữ liệu mở trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và thực phẩm, phù hợp với định hướng của Chiến lược AI quốc gia; tạo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) dành cho ứng dụng AI trong ngành thực phẩm, cho phép doanh nghiệp tiến hành sản xuất thử nghiệm trước khi phải tuân thủ đầy đủ các quy định.
Đồng thời, vị chuyên gia này cho biết cần hợp tác với các viện nghiên cứu và trường đại học để đào tạo hơn 10.000 kỹ sư AI phục vụ ngành F&B đến năm 2030, cũng như khuyến khích phát triển các chương trình STEM; mở rộng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng xanh cho doanh nghiệp F&B đầu tư vào công nghệ AI và các giải pháp thuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại các khu công nghiệp và khu công nghệ cao.
Đi vào khía cạnh vận hành và sản xuất, ông Phí Anh Tuấn, Trưởng Ban Tư vấn chuyển đổi số mảng doanh nghiệp và Nhà nước tại DXCenter phân tích việc đưa công nghệ thị giác máy tính vào dây chuyền nhà máy có khả năng phát hiện lỗi ngoại quan của sản phẩm với độ chính xác vượt 95%. Hệ thống giám sát này cũng giúp các đơn vị sản xuất giảm từ 30% - 70% tỷ lệ sản phẩm lỗi và tiết giảm từ 40% - 60% chi phí nhân sự kiểm soát chất lượng.
Thêm vào đó, các mô hình công nghệ tự động ra quyết định đang giúp các chuỗi đồ ăn nhanh và nhà máy thực phẩm giảm lượng hàng tồn kho từ 20% - 40%, giảm thiểu tỷ lệ hủy hàng tới 60% và tăng mức độ đáp ứng dịch vụ thêm 10% - 20%. Sự kết hợp giữa thị giác máy tính và hệ thống tự quyết định, sẽ tạo nên một cơ chế quản trị thông minh biết đưa ra các phương án điều chỉnh máy móc nhằm ngăn chặn rủi ro từ đầu chuỗi cung ứng.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
