Giá cao su thế giới
Kết thúc phiên giao dịch ngày 22/4, thị trường cao su thế giới ghi nhận diễn biến tích cực tại nhiều khu vực châu Á. Cụ thể, tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 0,6% (tương đương 2,3 Yên), lên mức 380,3 Yên/kg.
Tại Trung Quốc, giá cao su trên Sàn Thượng Hải tăng mạnh hơn, với hợp đồng tháng 5/2026 tăng 1,3% (220 Nhân dân tệ), đạt 16.720 Nhân dân tệ/tấn. Trong khi đó, trên sàn SICOM Singapore, giá cao su kỳ hạn cùng kỳ tăng 2%, lên mức 205,2 US cent/kg.
Diễn biến này chủ yếu được hỗ trợ bởi đà tăng mạnh của giá dầu thô – yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ với giá cao su tổng hợp – cùng với việc hoạt động sản xuất lốp xe tại Trung Quốc vẫn duy trì ở mức ổn định, góp phần giữ vững nhu cầu tiêu thụ.
Ở kỳ hạn xa hơn, hợp đồng cao su tháng 9 trên Sàn Osaka tăng 3,9 Yên (+1,01%) lên 391,4 Yên/kg. Trên Sàn Thượng Hải, hợp đồng cùng kỳ tăng tới 470 Nhân dân tệ (+2,83%), đạt 17.080 Nhân dân tệ/tấn.
Tuy nhiên, không phải toàn bộ thị trường đều đi lên. Tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2026 giảm nhẹ 0,4%, xuống còn 79,6 Baht/kg. Ngoài ra, hợp đồng cao su butadien tại Trung Quốc cũng ghi nhận mức giảm 0,28%, phản ánh sự phân hóa giữa các dòng sản phẩm.
Nhìn chung, xu hướng tăng của cao su tự nhiên đang chiếm ưu thế, trong bối cảnh thị trường được hỗ trợ bởi yếu tố năng lượng và nhu cầu công nghiệp.
Trong ngắn hạn, giá cao su thế giới nhiều khả năng tiếp tục chịu ảnh hưởng từ biến động của giá dầu và tình hình địa chính trị, đặc biệt là các yếu tố liên quan đến nguồn cung năng lượng toàn cầu. Bên cạnh đó, nhu cầu từ ngành sản xuất lốp xe – đặc biệt tại Trung Quốc – vẫn là yếu tố then chốt hỗ trợ thị trường. Nếu hoạt động sản xuất duy trì ổn định hoặc tăng trưởng, giá cao su có thể giữ được đà tăng.
Tuy nhiên, thị trường cũng đối mặt với một số rủi ro như biến động thời tiết tại các nước sản xuất lớn, chính sách môi trường ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp, cũng như sự cạnh tranh từ cao su tổng hợp.
Giá cao su trong nước
Trái ngược với diễn biến quốc tế, thị trường cao su trong nước tiếp tục giữ trạng thái ổn định tại hầu hết doanh nghiệp lớn, cho thấy sự chủ động điều tiết nguồn cung và giá thu mua.
Cụ thể, tại Công ty Phú Riềng, giá thu mua mủ tạp duy trì ở mức 390 đồng/DRC, trong khi mủ nước được thu mua ở mức 420 đồng/TSC.
Tại Công ty MangYang, giá mủ nước dao động trong khoảng 458 – 463 đồng/TSC (loại 2 – loại 1), còn mủ đông tạp ở mức 404 – 459 đồng/DRC.
Công ty Cao su Bình Long tiếp tục giữ giá thu mua ổn định: mủ nước tại nhà máy ở mức 432 đồng/TSC/kg, tại đội sản xuất là 422 đồng/TSC/kg; mủ tạp (DRC 60%) ở mức 14.000 đồng/kg.
Tương tự, Công ty Cao su Bà Rịa niêm yết giá mủ nước 420 đồng/TSC (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30), mủ đông DRC (35 – 44%) ở mức 14.600 đồng/kg và mủ nguyên liệu ở mức 18.100 đồng/kg.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
