Năm 2025, CPI tăng 3,31%, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra

Theo Cục thống kê (Bộ Tài chính), Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý IV/2025 tăng 3,44% so với quý IV/2024. Tính chung cả năm 2025, CPI tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.

CPI tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra

Cục thống kê (Bộ Tài chính) cho biết chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng 0,19% so với tháng trước do giá lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 12 tăng 3,48%. 

Trong mức tăng 0,19% của CPI tháng 12 so với tháng trước, có 9 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

9 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất, với mức tăng 0,75% so với tháng trước (tác động làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm). Trong đó, chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,98% (tác động tăng 0,22 điểm phần trăm); nhóm lương thực tăng 0,55%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,29%.

Tiếp đến nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,20% do nhu cầu mua sắm quần áo, giày dép tăng vào cuối năm. Trong đó, giá quần áo may sẵn tăng 0,19%; may mặc khác tăng 0,21%; dịch vụ may mặc tăng 0,50%; mũ nón tăng 0,46%.

Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,19%, chủ yếu ở một số mặt hàng như: Giá đồ trang sức tăng 2,71% theo giá vàng thế giới; sửa chữa đồng hồ đeo tay tăng 0,69%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 0,26%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,25%; hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,04%.

Năm 2025 CPI tăng 331 đạt mục tiêu Quốc hội đề ra

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16% do chi phí sản xuất và nhân công tăng. Trong đó, bình nước nóng nhà tắm tăng 0,29% do nhu cầu sử dụng tăng vào mùa lạnh; thiết bị gia đình lớn có động cơ tăng 0,24%; máy xay sinh tố, ép hoa quả tăng 1,03%; nồi điện tăng 0,22%; ấm, phích nước điện tăng 0,19%; đồng hồ treo tường và để bàn tăng 0,36%; gương treo tường tăng 0,23%.

Số liệu thống kê cũng cho thấy CPI bình quân quý 4/2025 tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,84%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,91%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,19%; giáo dục tăng 3,17%; hàng hóa và dịch khác tăng 3,05%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,20%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,75%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,58%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,42%; giao thông tăng 0,18%; thông tin và truyền thông giảm 0,37%.

Nguyên nhân đẩy CPI năm 2025 tăng

Tính chung cả năm 2025, CPI tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra. Cục Thống kê cũng chỉ ra 6 nguyên nhân đẩy CPI năm 2025 tăng.

Thứ nhất, chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,08%, làm CPI chung tăng 1,38 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê tăng 7,33% và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 6,45%.

Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 7,20% do nhu cầu sử dụng điện tăng cùng với EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân vào ngày 11/10/2024 và ngày 10/5/2025.

Thứ hai, chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,27%, tác động làm CPI chung tăng 1,17 điểm phần trăm, trong đó nhóm thực phẩm tăng 3,61%, tác động làm CPI chung tăng 0,8 điểm phần trăm, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 3,81%; nhóm lương thực tăng 0,17%.

Thứ ba, chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,07%, làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế.

Thứ tư, chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,78%, làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm.

Thứ năm, chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 2,15%, làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh học phí.

Thứ sáu, chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,66%, tác động làm CPI chung tăng 0,09 điểm phần trăm.

Cục Thống kê cho biết có 2 yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2025. Trong đó, chỉ số nhóm giao thông giảm 2,14%, tác động làm CPI chung giảm 0,21 điểm phần trăm, trong đó giá xăng giảm 8,53%.

Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,45%, tác động làm CPI chung giảm 0,02 điểm phần trăm do giá điện thoại thế hệ cũ giảm.

Lạm phát cơ bản tháng 12 tăng 0,23% so với tháng trước và tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,21% so với năm trước, thấp hơn mức tăng 3,31% của CPI bình quân chung. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 29/12/2025, giá vàng thế giới bình quân ở mức 4.356,45 USD/ounce, tăng 6,18% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ cắt giảm lãi suất vào năm 2026.

Bên cạnh đó, bất ổn kinh tế và địa chính trị toàn cầu, lạm phát tiềm ẩn rủi ro quay trở lại, nhu cầu trú ẩn an toàn của nhà đầu tư cùng với hoạt động mua ròng vàng của các ngân hàng trung ương và quỹ hoán đổi danh mục (ETF) góp phần thúc đẩy giá vàng tăng trong tháng Mười Hai. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng Mười Hai tăng 2,18% so với tháng trước; tăng 70,37% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 47,67%.

Giá đô la Mỹ trong nước tháng Mười Hai biến động ngược chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 29/12/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 98,31 điểm, giảm 1,33% so với tháng trước, chủ yếu do kỳ vọng điều chỉnh chính sách tiền tệ của Mỹ, lạm phát có xu hướng hạ nhiệt và sự phục hồi của các đồng tiền chủ chốt khác, qua đó tạo áp lực giảm giá lên đồng USD trên thị trường quốc tế. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng Mười Hai tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,92%.

Tin khác
Sau sáp nhập, địa phương nào đang dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người?
Sau sáp nhập, địa phương nào đang dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người?

Hà Nội dẫn đầu bảng xếp hạng thu nhập bình quân đầu người của 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập, với 8,37 triệu đồng/tháng. Theo sau là TP.HCM, Đồng Nai, Hải Phòng và Quảng Ninh.

Kết nối doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường vào Hoa Kỳ
Kết nối doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường vào Hoa Kỳ

Dù đối mặt với áp lực phòng vệ thương mại gia tăng, Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng vẫn đứng trước cơ hội thâm nhập sâu vào thị trường Mỹ.

Ổn định mặt bằng giá, kiểm soát lạm phát nửa cuối năm
Ổn định mặt bằng giá, kiểm soát lạm phát nửa cuối năm

Mặc dù áp lực lạm phát được dự báo gia tăng trong nửa cuối năm 2026 do tác động từ giá năng lượng, chi phí đầu vào và nhu cầu tiêu dùng theo mùa, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam vẫn có cơ sở để kiểm soát mặt bằng giá nếu tiếp tục điều hành linh hoạt chính sách tài khóa, tiền tệ và chủ động bảo đảm nguồn cung hàng hóa.

Hơn 2,6 tỷ USD đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp TP.HCM
Hơn 2,6 tỷ USD đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp TP.HCM

Tính đến ngày 30/6/2026, các khu chế xuất và khu công nghiệp tại TP.HCM đã đạt hơn 61% chỉ tiêu thu hút đầu tư của cả năm với 2.611,24 triệu USD. Trong giai đoạn tới, thành phố định hướng tái cấu trúc hệ thống này theo mô hình thế hệ mới, ưu tiên công nghiệp công nghệ cao, hướng tới phát triển bền vững.

Xây dựng 'lá chắn' liên ngành bảo vệ chuỗi giá trị sầu riêng
Xây dựng 'lá chắn' liên ngành bảo vệ chuỗi giá trị sầu riêng

Mùa thu hoạch sầu riêng năm 2026 đang bước vào cao điểm trong bối cảnh ngành hàng này đối mặt với nhiều áp lực từ yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.

Kiểm soát lạm phát để chính sách tiền lương phát huy hiệu quả
Kiểm soát lạm phát để chính sách tiền lương phát huy hiệu quả

Việc điều chỉnh lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng/tháng từ ngày 1/7/2026 được kỳ vọng cải thiện thu nhập cho hơn 2 triệu cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, điều quan trọng không chỉ là mức lương tăng thêm mà còn là khả năng giữ ổn định mặt bằng giá, bảo vệ sức mua thực tế của người lao động trong bối cảnh áp lực lạm phát vẫn hiện hữu.

Đầu tư công 6 tháng đạt 35,5% kế hoạch, hai dự án đường sắt trọng điểm giải ngân còn chậm
Đầu tư công 6 tháng đạt 35,5% kế hoạch, hai dự án đường sắt trọng điểm giải ngân còn chậm

Đến hết ngày 30/6/2026, cả nước đã giải ngân khoảng 356.935 tỷ đồng vốn đầu tư công, tương đương 35,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Mặc dù giá trị giải ngân tăng hơn 38.361 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thực hiện vẫn thấp hơn 0,5 điểm phần trăm, trong bối cảnh nhiều dự án tiếp tục gặp vướng mắc về giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu và công tác tổ chức thực hiện.

Chuyển đổi xanh đối với các khu công nghiệp: Chìa khóa cạnh tranh toàn cầu
Chuyển đổi xanh đối với các khu công nghiệp: Chìa khóa cạnh tranh toàn cầu

Xu hướng chuyển đổi mô hình khu công nghiệp (KCN) truyền thống sang KCN xanh đã trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu đồng thời thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc