Giá hồ tiêu hôm nay: Trong nước đi ngang
Thị trường hồ tiêu trong nước sáng 12/7 không ghi nhận biến động mới. Theo khảo sát tại các vùng nguyên liệu trọng điểm, giá thu mua tiếp tục dao động trong khoảng 138.000 - 141.000 đồng/kg, giữ nguyên so với phiên trước.
Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng sau sắp xếp đơn vị hành chính) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất cả nước với 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng kế tiếp ở mức 140.000 đồng/kg. Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM), hồ tiêu được thu mua ở mức 139.000 đồng/kg, trong khi Gia Lai và Đồng Nai cùng duy trì 138.000 đồng/kg - thấp nhất trong nhóm địa phương khảo sát.
Sau nhịp tăng khá mạnh hồi đầu tuần, thị trường hồ tiêu trong nước đang bước vào giai đoạn tích lũy. Mặt bằng giá ổn định cho thấy cả người bán lẫn doanh nghiệp thu mua đều giữ tâm lý thận trọng, chờ thêm tín hiệu từ thị trường xuất khẩu.
Trái ngược với diễn biến trong nước, thị trường hồ tiêu thế giới ghi nhận xu hướng giảm tại một số quốc gia xuất khẩu. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia giảm 0,6%, xuống còn 7.079 USD/tấn.
Đáng chú ý, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam giảm khoảng 250 USD/tấn, tương đương gần 4%, xuống còn 5.850 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 5.950 USD/tấn đối với loại 550 g/l. Trong khi đó, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 vẫn giữ ở mức 5.900 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia ổn định ở mức 9.350 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm còn 9.198 USD/tấn. Tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh nhất khi mất tới 800 USD/tấn, tương đương gần 9%, xuống còn 8.200 USD/tấn - thấp nhất trong nhóm các quốc gia xuất khẩu lớn do IPC công bố. Tiêu trắng Malaysia tiếp tục duy trì ở mức 12.250 USD/tấn.
Việc giá xuất khẩu giảm sâu trong khi giá thu mua nội địa vẫn ổn định cho thấy các doanh nghiệp xuất khẩu đang chịu áp lực cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường quốc tế, đặc biệt ở phân khúc tiêu trắng.
Giá cà phê hôm nay: Đồng loạt lao dốc sau phiên tăng sốc
Giá cà phê trong nước sáng 12/7 quay đầu giảm mạnh sau phiên tăng bùng nổ trước đó. Theo khảo sát tại khu vực Tây Nguyên, giá thu mua đồng loạt giảm từ 3.000 - 3.200 đồng/kg, đưa mặt bằng giao dịch xuống còn khoảng 94.700 - 95.300 đồng/kg.
Lâm Đồng là địa phương ghi nhận mức giảm mạnh nhất, mất 3.200 đồng/kg, xuống còn 94.700 đồng/kg - thấp nhất khu vực. Đắk Lắk giảm 3.000 đồng/kg, còn 95.200 đồng/kg. Gia Lai và Đắk Nông cùng giảm 3.100 đồng/kg, lần lượt xuống 95.200 đồng/kg và 95.300 đồng/kg, trong đó Đắk Nông vẫn là địa phương có mức giá cao nhất.
Theo giới kinh doanh, sau khi tăng lên mức cao nhất trong hơn 5 tháng ở phiên trước, giá cà phê nội địa nhanh chóng điều chỉnh theo xu hướng giảm của thị trường thế giới khi hoạt động chốt lời gia tăng.
Trên các sàn giao dịch quốc tế, giá cà phê cũng đồng loạt đi xuống. Tại London, hợp đồng robusta giao tháng 9/2026 giảm 191 USD/tấn, tương đương 4,72%, xuống còn 3.852 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11 giảm 183 USD/tấn, còn 3.819 USD/tấn.
Trong khi đó, trên sàn New York, hợp đồng arabica giao tháng 9/2026 giảm 13,65 cent/pound, tương đương 3,92%, xuống còn 334,25 cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12 cũng giảm 12,2 cent/pound, xuống còn 316 cent/pound.
Theo Reuters, thị trường cà phê thế giới quay đầu giảm sau chuỗi phiên tăng rất mạnh đầu tuần. Bên cạnh hoạt động chốt lời của các quỹ đầu tư, việc Sở Giao dịch Liên lục địa (ICE) liên tiếp nâng mức ký quỹ cũng góp phần làm gia tăng áp lực bán trên thị trường.
Giá lúa gạo hôm nay: Thị trường ổn định, gạo nguyên liệu xuất khẩu tiếp tục neo cao
Thị trường lúa gạo ngày 12/7 nhìn chung ít biến động. Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động mua bán vẫn diễn ra chậm nhưng mặt bằng giá tiếp tục được giữ vững, trong khi giá gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu duy trì ở mức cao.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi Đài Thơm 8 hiện dao động từ 6.450 - 6.600 đồng/kg; lúa OM 18 ở mức 6.300 - 6.500 đồng/kg; lúa IR 50404 từ 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa OM 34 dao động 5.600 - 5.700 đồng/kg và lúa OM 5451 ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg.
Tại các địa phương như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, giao dịch vẫn diễn ra chậm. Nông dân tiếp tục giữ giá, trong khi thương lái mua cầm chừng do sức mua chưa cải thiện rõ rệt.
Đối với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động từ 8.950 - 9.050 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.400 - 9.500 đồng/kg; OM 5451 từ 9.500 - 9.600 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc Thơm cùng giữ mức 7.500 - 7.600 đồng/kg, trong khi gạo thành phẩm IR 504 dao động từ 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, giá tấm thơm dao động 8.100 - 8.200 đồng/kg, còn cám giữ mức 7.950 - 8.100 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo hầu như không thay đổi. Gạo Nàng Nhen vẫn có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Jasmine ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm từ 15.000 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg và gạo thường dao động 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 510 - 520 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 348 - 352 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan được chào bán trong khoảng 478 - 482 USD/tấn, còn gạo 5% tấm của Ấn Độ dao động từ 350 - 354 USD/tấn. Mặt bằng giá hiện nay tiếp tục giúp gạo Việt Nam duy trì lợi thế ở phân khúc gạo thơm trên thị trường quốc tế.
![]() | Hàng loạt quy định SPS mới từ các thị trường nhập khẩu gia tăng sức ép với nông sản ViệtTrong nửa cuối tháng 6/2026 nhiều thị trường xuất khẩu trọng điểm như Liên minh châu Âu EU Nhật Bản Australia New Zealand Hoa Kỳ Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil đồng loạt ban hành hoặc lấy ý kiến các quy định mới về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật |
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn

