Giá cao su thế giới
Kết thúc phiên giao dịch ngày 29/6, thị trường cao su ghi nhận diễn biến phân hóa giữa các sàn giao dịch lớn. Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 12 trên Sàn Giao dịch Osaka (JPX/OSE) giảm 2,3 yên, tương đương 0,57%, xuống còn 400 yên/kg.
Tại Thái Lan, giá cao su nội địa giao tháng 7 giảm 5,3 baht còn 86 baht/kg. Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE), giá cao su giảm 160 nhân dân tệ, tương đương 0,96%, xuống mức 16.470 nhân dân tệ/tấn.
Bước sang phiên đầu tuần, giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản phục hồi nhẹ nhờ tác động từ thị trường năng lượng và tỷ giá. Trên Sở Giao dịch Osaka (OSE), hợp đồng cao su giao tháng 12/2026 tăng 0,4 yên, tương đương 0,1%, lên mức 410,4 yên/kg.
Tại Trung Quốc, hợp đồng cao su giao tháng 9 trên SHFE tăng 45 nhân dân tệ, tương đương 0,27%, lên 16.660 nhân dân tệ/tấn. Trái lại, hợp đồng cao su butadien giao tháng 9 - loại cao su tổng hợp được giao dịch nhiều nhất trên sàn - giảm 150 nhân dân tệ, tương đương 1,25%, xuống còn 11.875 nhân dân tệ/tấn.
Đồng yên Nhật hiện giao dịch quanh mức 161,75 JPY/USD, tiếp tục ở vùng thấp nhất trong gần 40 năm. Đồng nội tệ suy yếu giúp các tài sản định giá bằng yên trở nên hấp dẫn hơn với nhà đầu tư nước ngoài, qua đó hỗ trợ giá cao su.
Giá dầu cũng quay đầu tăng sau khi căng thẳng giữa Mỹ và Iran tiếp tục gây lo ngại về tính bền vững của thỏa thuận ngừng bắn và ảnh hưởng đến hoạt động vận chuyển năng lượng qua eo biển Hormuz. Do cao su tự nhiên cạnh tranh trực tiếp với cao su tổng hợp - sản phẩm có nguồn gốc từ dầu thô - nên giá dầu tăng thường tạo lực đỡ cho thị trường cao su tự nhiên.
Tuy nhiên, đà tăng vẫn bị kìm hãm bởi nguồn cung cải thiện tại các quốc gia sản xuất lớn ở Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam khi nhiều khu vực đã bước qua giai đoạn thay lá và tăng tốc khai thác.
Trên Sàn Giao dịch Singapore (SICOM), hợp đồng cao su giao tháng 7 tăng 0,2%, lên mức 209 US cent/kg.
Giá cao su trong nước
Tại thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su nguyên liệu tiếp tục duy trì ổn định do nguồn cung không biến động lớn và nhu cầu phục vụ chế biến, xuất khẩu chưa có nhiều thay đổi.
Khảo sát tại các doanh nghiệp cho thấy Công ty MangYang đang thu mua mủ nước ở mức 458 - 463 đồng/TSC đối với loại 2 đến loại 1; mủ đông tạp dao động 404 - 459 đồng/DRC.
Tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá thu mua mủ nước được áp dụng ở mức 420 đồng/độ TSC/kg đối với nguyên liệu có độ TSC từ 25 đến dưới 30; mủ đông DRC từ 35 - 44% ở mức 14.600 đồng/kg, còn mủ nguyên liệu đạt 18.100 đồng/kg.
Trong khi đó, Công ty Phú Riềng chào mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC và mủ nước ở mức 420 đồng/TSC. Công ty Bình Long duy trì giá thu mua tại nhà máy ở mức 505 đồng/độ TSC/kg, thu mua tại đội sản xuất 495 đồng/TSC/kg và mủ tạp DRC 60% ở mức 18.000 đồng/kg.
Theo các doanh nghiệp, nguồn nguyên liệu trong nước hiện vẫn khá ổn định, trong khi nhu cầu thu mua phục vụ chế biến và xuất khẩu chưa xuất hiện biến động đáng kể nên mặt bằng giá tiếp tục được duy trì.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
