Giá cao su trong nước ổn định
Tại thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn không ghi nhận thay đổi.
Tại Công ty Cao su Mang Yang, mủ nước loại 1 được thu mua ở mức 463 đồng/TSC/kg, loại 2 ở mức 458 đồng/TSC/kg. Mủ đông tạp loại 1 có giá 459 đồng/kg, trong khi loại 2 ở mức 404 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước mức 1 ở 452 đồng/độ TSC/kg, áp dụng với độ TSC từ 30 trở lên; mức 2 ở 447 đồng/độ TSC/kg, áp dụng với độ TSC từ 25 đến dưới 30; mức 3 ở 442 đồng/độ TSC/kg, áp dụng với độ TSC từ 20 đến dưới 25.
Đối với mủ tạp, mủ chén và mủ đông có độ DRC từ 50% trở lên được thu mua ở mức 18.000 đồng/kg; loại có độ DRC từ 45-50% ở mức 16.700 đồng/kg; mủ đông có độ DRC từ 35-45% ở mức 13.500 đồng/kg.
Tại Công ty Cao su Phú Riềng, giá mủ nước ở mức 420 đồng/TSC/kg, trong khi mủ tạp được thu mua ở mức 390 đồng/DRC/kg.
Công ty Cao su Bình Long duy trì giá mủ nước tại nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và tại đội sản xuất ở mức 530 đồng/độ TSC/kg. Mủ tạp có độ DRC 60% được thu mua ở mức 18.000 đồng/kg.
Giá cao su thế giới diễn biến trái chiều
Trên sàn TOCOM tại Nhật Bản, giá cao su RSS3 tiếp tục tăng ở các kỳ hạn gần. Hợp đồng giao tháng 8/2026 tăng 2,04%, lên 465 JPY/kg; hợp đồng tháng 9 tăng 1,56%, lên 454,6 JPY/kg.
Các kỳ hạn xa diễn biến phân hóa. Hợp đồng tháng 10 giảm nhẹ 0,02%, xuống 439,7 JPY/kg; tháng 11 giảm 0,11%, còn 435,5 JPY/kg. Trong khi đó, hợp đồng tháng 12 tăng 0,58%, lên 427,5 JPY/kg.
Tại sàn SHFE của Trung Quốc, giá cao su tự nhiên nhìn chung giảm. Hợp đồng tháng 8 giữ nguyên ở 16.990 CNY/tấn, trong khi tháng 9 giảm 0,77%, xuống 16.825 CNY/tấn. Hợp đồng tháng 10 giảm 0,91%, còn 16.820 CNY/tấn; tháng 11 giảm 0,74%, xuống 16.865 CNY/tấn và tháng 1/2027 giảm 0,89%, còn 17.725 CNY/tấn.
Trên sàn SGX Singapore, toàn bộ các kỳ hạn TSR20 được giao dịch đều giảm. Hợp đồng tháng 9 giảm 0,32%, xuống 221,5 Cent/kg; tháng 10 giảm 0,59%, còn 219,7 Cent/kg. Các hợp đồng tháng 11, 12 và tháng 1/2027 lần lượt giảm 0,54%, 1,23% và 1,41%.
Diễn biến trên cho thấy thị trường cao su chưa hình thành xu hướng tăng đồng thuận. Lực mua vẫn hỗ trợ các kỳ hạn gần trên TOCOM, nhưng áp lực bán tại SHFE và SGX, đặc biệt ở các kỳ hạn xa, cho thấy tâm lý thận trọng đang gia tăng.
Trong ngắn hạn, diễn biến nhu cầu từ ngành sản xuất lốp xe, hoạt động thu mua của Trung Quốc, nguồn cung tại các quốc gia sản xuất chủ lực và biến động tỷ giá sẽ tiếp tục là những yếu tố được thị trường theo dõi.
Ngành cao su hướng tới thị trường tín chỉ carbon
Bên cạnh diễn biến giá, ngành cao su Việt Nam đang tìm kiếm thêm động lực tăng trưởng từ thị trường tín chỉ carbon, hướng tới giảm dấu chân carbon và nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 789.500 tấn cao su, trị giá 1,55 tỷ USD. Khối lượng và giá trị xuất khẩu giảm nhẹ so với cùng kỳ, song giá xuất khẩu bình quân tăng 8,9%, lên 1.963 USD/tấn.
Cây cao su có chu kỳ kinh doanh dài, khoảng 25-35 năm, sinh khối lớn và khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon đáng kể. Đây được xem là nền tảng để các doanh nghiệp cao su tham gia thị trường tín chỉ carbon, đồng thời tạo thêm giá trị cho sản phẩm.
Theo TS. Nghiêm Phương Thúy, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, doanh nghiệp có thể thương mại hóa kết quả giảm phát thải thông qua thị trường tuân thủ, thị trường tự nguyện và các cơ chế hợp tác quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris. Việc tham gia thị trường carbon không chỉ góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 và NDC của Việt Nam mà còn có thể hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, để biến tiềm năng hấp thụ carbon thành giá trị kinh tế, dữ liệu là yếu tố quan trọng. Nhiều doanh nghiệp cao su lớn đã bước đầu xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ việc tính toán phát thải và khả năng hấp thụ carbon.
Ông Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Đội Khoa học - Công nghệ, Tổng công ty Cao su Đồng Nai (DONARUCO), cho biết doanh nghiệp đang quản lý khoảng 31.000 ha cao su, trong đó hơn 9.000 ha được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững VFCS/PEFC. Doanh nghiệp cũng có dữ liệu về từng lô đất, tuổi cây, giống, định mức phân bón và nhiên liệu được ghi chép qua nhiều năm. Đây là cơ sở để tính toán lượng phát thải và khả năng hấp thụ carbon.
Dù vậy, việc triển khai các dự án carbon vẫn gặp vướng mắc liên quan đến pháp lý đất đai. Phần lớn diện tích cao su được quy hoạch là đất trồng cây lâu năm thay vì đất lâm nghiệp.
Theo ông Luân, cần làm rõ việc vườn cao su trên đất trồng cây lâu năm có phù hợp với phương pháp quản lý rừng cải tiến (IFM) hay không, đồng thời xác định rõ tư cách pháp lý của doanh nghiệp thuê đất khi đăng ký dự án carbon.
TS. Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận quản lý rừng bền vững, cho rằng ngành cao su cần phân biệt rõ hai mục tiêu là tạo tín chỉ để bán và giảm dấu chân carbon của sản phẩm.
Trong đó, tín chỉ carbon có thể giao dịch trên thị trường, còn dấu chân carbon tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Việc giảm dấu chân carbon giúp doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu môi trường ngày càng cao của thị trường nhập khẩu, qua đó nâng giá trị sản phẩm.
Một dự án tín chỉ carbon phải trải qua nhiều bước, từ xây dựng văn kiện dự án, thẩm định độc lập, đăng ký, đo đạc, báo cáo đến xác minh trước khi tín chỉ được cấp. Chi phí tư vấn, thẩm định và giám sát có thể tạo áp lực lớn đối với các dự án quy mô nhỏ.
Để nâng hiệu quả, ông Hoàng Bảo Luân đề xuất xây dựng dự án carbon ở quy mô tập đoàn. Việc gộp nhiều đơn vị thành viên vào một dự án lớn có thể giúp chia sẻ chi phí cố định, tăng quy mô tín chỉ và cải thiện hiệu quả đầu tư.
Chất lượng tín chỉ cũng được xem là yếu tố quyết định giá trị. Thị trường carbon đang có xu hướng chuyển từ ưu tiên số lượng sang chú trọng chất lượng, trong đó các dự án quản lý và phục hồi rừng có chất lượng cao có khả năng tạo ra giá trị tín chỉ lớn hơn.
Theo ông Luân, để thị trường carbon trở thành động lực gia tăng giá trị xuất khẩu, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Nhà nước cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật phù hợp với cây cao su, trong đó có hệ số sinh khối, hệ số phát thải và phương pháp tính toán. Đồng thời, cần làm rõ quyền sở hữu tín chỉ trên diện tích đất thuê và trách nhiệm của doanh nghiệp trong trường hợp quy hoạch sử dụng đất thay đổi.
Về phía doanh nghiệp, việc số hóa dữ liệu về phát thải, hấp thụ carbon và quản lý vùng trồng cần được đẩy mạnh. Các chứng chỉ quản lý rừng bền vững cũng có thể góp phần nâng cao khả năng chứng minh chất lượng và tính bền vững của sản phẩm với khách hàng quốc tế.
Trong bối cảnh Việt Nam dự kiến vận hành sàn giao dịch carbon, tín chỉ carbon được kỳ vọng không chỉ tạo thêm nguồn thu mà còn trở thành một công cụ thúc đẩy ngành cao su tái cấu trúc theo hướng bền vững, nâng cao giá trị sản phẩm và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
