Gạo Việt cần "xây dựng danh mục thị trường"

Philippines vẫn là thị trường lớn nhất của gạo Việt, nhưng chính sách nhập khẩu ngày càng linh hoạt và sức ép về giá khiến đa dạng hóa thị trường, nâng chất lượng và giảm phụ thuộc vào một đầu ra trở thành yêu cầu cấp thiết cho ngành lúa gạo hiện nay.

Philippines vẫn là “trụ cột” nhưng gạo Việt cần thêm kênh mới

Theo số liệu của Cục Thống kê, đến giữa tháng 7/2026, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 5,3 triệu tấn gạo, thu về 2,52 tỷ USD. Riêng 6 tháng đầu năm, lượng xuất khẩu đạt hơn 5 triệu tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ, trong khi giá trị chỉ khoảng 2,4 tỷ USD, giảm 2,5%. Điều này cho thấy bài toán của ngành gạo không còn đơn thuần là bán được bao nhiêu tấn, mà là bán cho ai, bán sản phẩm gì và giữ được bao nhiêu giá trị trên mỗi tấn gạo.

Trong bức tranh đó, Philippines tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Bốn tháng đầu năm 2026, thị trường này nhập từ Việt Nam khoảng 1,69 triệu tấn, trị giá 740,5 triệu USD, chiếm 46,87% cả về lượng và giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam. Trong khi đó, Trung Quốc đứng thứ hai với 17,78% và Ghana đứng thứ ba với 7,48%.

Gạo Việt tìm thêm 'chân kiềng' cho xuất khẩu

Chiếm tỷ trọng gần một nửa cho thấy Philippines vừa là bệ đỡ lớn nhất, vừa là điểm dễ tổn thương nhất của ngành gạo Việt. Theo đó, việc giảm phụ thuộc Philippines không đồng nghĩa với rời bỏ thị trường này. Ngược lại, đây vẫn là thị trường có nhu cầu lớn, vị trí địa lý thuận lợi và hệ thống thương mại đã được doanh nghiệp Việt xây dựng trong nhiều năm.

Đầu năm 2026, phía Philippines từng cho biết dự kiến nhập khoảng 3,6 triệu tấn gạo và khoảng 75-80% có thể đến từ Việt Nam, tương đương khoảng 2,7-2,88 triệu tấn. Hai bên thậm chí đã thảo luận khả năng ký thỏa thuận nhập khẩu ban đầu khoảng 2,5 triệu tấn. Tuy nhiên, kế hoạch này không có nghĩa nhu cầu nhập khẩu của Philippines sẽ ổn định theo một đường thẳng.

Cuối tháng 7, Bộ trưởng Nông nghiệp Philippines Francisco Tiu Laurel Jr. cho biết nhu cầu nhập khẩu thực tế của nước này trong năm 2026 chỉ khoảng 3,6-3,8 triệu tấn. Nếu nhập cao hơn, lên khoảng 5-5,2 triệu tấn, phần tăng thêm chủ yếu nhằm tạo tồn kho chiến lược và còn phụ thuộc vào giá quốc tế cũng như kết quả vụ thu hoạch chính bắt đầu từ tháng 9. Đến ngày 22/7, Philippines đã nhập khoảng 3,3 triệu tấn và có thêm khoảng 1 triệu tấn đã ký hợp đồng, dự kiến cập cảng trong những tháng tiếp theo.

Điều này cho thấy một điểm quan trọng rằng, Philippines vẫn cần gạo nhập khẩu, nhưng người mua đang chủ động hơn trong việc điều tiết lượng hàng và thời điểm mua. Chính sách của Manila cũng ngày càng chú trọng bảo vệ người sản xuất trong nước. Tháng 12/2025, Bộ Nông nghiệp Philippines dự kiến lượng nhập khẩu năm 2026 chỉ khoảng 3,6-3,8 triệu tấn và cho biết sẽ kiểm soát lượng nhập trong các giai đoạn thu hoạch để tránh gây áp lực lên giá lúa nội địa.

Đến tháng 7/2026, Philippines tiếp tục có động thái bảo vệ nông dân khi Cơ quan Lương thực quốc gia nâng giá mua tối thiểu lúa ướt lên 21 peso/kg từ mức 17 peso/kg cho vụ thu hoạch tiếp theo. Đồng thời, tại Iloilo, nước này dự kiến tạm dừng cho gạo nhập khẩu dỡ hàng trong giai đoạn giữa tháng 9 đến cuối tháng 11, trùng với cao điểm thu hoạch trong nước.

Như vậy, rủi ro đối với doanh nghiệp Việt không nằm ở khả năng Philippines đột ngột đóng cửa thị trường, mà nằm ở việc nhu cầu nhập khẩu có thể được điều tiết linh hoạt hơn theo mùa vụ, giá cả và mục tiêu bảo vệ nông dân. Đây là yếu tố doanh nghiệp Việt cần tính đến khi xây dựng kế hoạch xuất khẩu.

Một tín hiệu tích cực là Việt Nam đang có thêm những thị trường có khả năng giảm dần sự tập trung vào Philippines. Trong 4 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc đạt gần 563.000 tấn, trị giá khoảng 281 triệu USD, tăng 55,67% về lượng và 53,82% về giá trị so với cùng kỳ. Thị phần của Trung Quốc đã lên 17,78%, vượt xa mức của nhiều năm trước.

Đáng chú ý, USDA trong dự báo tháng 7 đã nâng lượng gạo nhập khẩu của Trung Quốc trong năm 2026 lên khoảng 3,9 triệu tấn, tăng 400.000 tấn so với dự báo trước đó. Đây là dư địa đáng kể cho các nhà xuất khẩu, dù cạnh tranh tại thị trường này cũng rất lớn.

Ghana tiếp tục là một thị trường quan trọng, nhưng diễn biến 4 tháng đầu năm cho thấy lượng xuất khẩu từ Việt Nam sang Ghana giảm 23,41%, giá trị giảm 32,48%. Bờ Biển Ngà cũng giảm mạnh, với lượng giảm 48,8% và giá trị giảm 57,6%. Những con số này cho thấy mở rộng sang châu Phi là cần thiết nhưng không thể xem đây là lời giải đơn giản cho bài toán Philippines.

Thậm chí, sự suy giảm tại Ghana và Bờ Biển Ngà còn cho thấy một vấn đề lớn hơn: đa dạng hóa thị trường mà vẫn cạnh tranh chủ yếu bằng giá sẽ không tạo ra sự bền vững.

Doanh nghiệp Việt cần “xây dựng danh mục thị trường”

Philippines có thể tiếp tục đảm nhiệm vai trò thị trường khối lượng lớn, nơi gạo Việt có lợi thế về khoảng cách vận chuyển, nguồn cung và quan hệ thương mại. Trung Quốc có thể được khai thác mạnh hơn ở những phân khúc có yêu cầu cao về chất lượng và truy xuất. Trong khi đó, các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, EU hay nhóm thị trường Trung Đông có thể phù hợp hơn với những dòng gạo thơm, gạo chất lượng cao, gạo đặc sản và sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn bền vững.

Gạo Việt tìm thêm 'chân kiềng' cho xuất khẩu
Xuất khẩu gạo tìm thêm thị trường mới

Cách phân bổ này giúp doanh nghiệp giảm một dạng phụ thuộc khác: phụ thuộc vào gạo phổ thông và cạnh tranh bằng giá. Bởi diễn biến giá hiện nay cho thấy sức ép rất rõ khi cuối tháng 7, gạo 5% tấm của Việt Nam được chào quanh 455-459 USD/tấn, trong khi gạo 5% tấm của Thái Lan khoảng 455-459 USD/tấn và gạo 5% tấm của Ấn Độ chỉ khoảng 363-367 USD/tấn. Khoảng cách giá cho thấy doanh nghiệp Việt đang phải cạnh tranh trong một thị trường mà nguồn cung giá thấp từ các đối thủ lớn vẫn rất mạnh.

Trong bối cảnh đó, tăng sản lượng nhưng giá trị xuất khẩu không tăng tương ứng sẽ khiến lợi nhuận của toàn chuỗi bị thu hẹp. Muốn giảm phụ thuộc đầu ra, phải thay đổi từ vùng nguyên liệu, đa dạng hóa thị trường cuối cùng vẫn quay về câu chuyện chất lượng nguyên liệu.

Các thị trường càng phát triển càng yêu cầu cao về dư lượng, truy xuất nguồn gốc, tính đồng nhất, quy trình canh tác và tiêu chuẩn môi trường. Ngay tại Philippines, ngành gạo Việt cũng đang phải đối mặt với yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn xanh.

Điều này buộc doanh nghiệp không thể chỉ ký hợp đồng rồi mới tìm nguyên liệu. Vùng trồng, nhà máy, tiêu chuẩn sản xuất và thị trường phải được kết nối ngay từ đầu. Một vùng nguyên liệu ổn định cho phép doanh nghiệp lựa chọn thị trường thay vì bị thị trường lựa chọn.

Ngược lại, nếu nguồn nguyên liệu chủ yếu là gạo phổ thông, doanh nghiệp sẽ khó thoát khỏi cuộc cạnh tranh về giá. Khi đó, dù mở thêm được thị trường, rủi ro vẫn còn nguyên. Đây cũng là lý do việc đa dạng hóa cần được thực hiện đồng thời ở ba tầng: thị trường, sản phẩm và chuỗi cung ứng.

Ở tầng thị trường, mục tiêu là giảm tỷ trọng Philippines trong tổng xuất khẩu nhưng vẫn duy trì quy mô bán hàng lớn tại đây. Ở tầng sản phẩm, cần tăng tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao, gạo đặc sản và các sản phẩm có thương hiệu. Ở tầng chuỗi cung ứng, cần củng cố liên kết với vùng nguyên liệu, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng.

Theo USDA, Việt Nam được dự báo có thể xuất khẩu khoảng 8,1 triệu tấn gạo trong năm 2026, tăng 200.000 tấn so với dự báo trước đó, nhờ nhu cầu từ các thị trường lớn như Philippines và Trung Quốc.

Philippines vì thế không phải thị trường cần “thoát khỏi”, mà là thị trường cần được đặt đúng vị trí. Đây vẫn có thể là trụ cột lớn nhất của xuất khẩu gạo Việt trong những năm tới, nhưng không nên là điểm tựa duy nhất. Khi doanh nghiệp có thêm Trung Quốc, Indonesia, Ghana, Bờ Biển Ngà và các thị trường có giá trị cao; khi sản phẩm được phân hóa theo từng phân khúc; và khi vùng nguyên liệu đủ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, sức ép từ một thị trường đơn lẻ sẽ giảm xuống.

Trong bối cảnh giá gạo thế giới còn biến động và các nước nhập khẩu ngày càng chủ động điều tiết nguồn cung, lợi thế của gạo Việt trong giai đoạn mới sẽ không chỉ nằm ở khả năng bán nhiều, mà ở khả năng có nhiều nơi để bán và có nhiều lý do để khách hàng trả giá cao hơn. Philippines sẽ tiếp tục là trụ cột của gạo Việt, nhưng tỷ trọng quá lớn cũng tạo rủi ro. Đa dạng hóa thị trường, nâng chất lượng, củng cố vùng nguyên liệu và xây dựng thương hiệu sẽ giúp ngành gạo giảm phụ thuộc, giữ giá trị và chủ động hơn trước biến động toàn cầu.

Tin khác
Doanh nghiệp tự quyết giá xăng dầu: Công cụ nào giám sát, quản lý giá?
Doanh nghiệp tự quyết giá xăng dầu: Công cụ nào giám sát, quản lý giá?

Doanh nghiệp khi định giá xăng, dầu phải kê khai công thức tính, các yếu tố cấu thành và giải trình các biến động chi phí trên Hệ thống cơ sở dữ liệu giá do Bộ Công Thương xây dựng và quản lý thống nhất trên toàn quốc.

Giá kim loại hôm nay 10/10: Vàng bật tăng, bạc phục hồi, quặng sắt chạm đáy 18 tháng
Giá kim loại hôm nay 10/10: Vàng bật tăng, bạc phục hồi, quặng sắt chạm đáy 18 tháng

Giá kim loại hôm nay 10/10 ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá vàng miếng trong nước tăng mạnh 1,8 triệu đồng/lượng, vàng thế giới lên mức cao nhất trong một tuần. Giá bạc phục hồi 1,54% lên 59,97 USD/ounce, trong khi quặng sắt Trung Quốc vẫn chịu sức ép từ lợi nhuận ngành thép suy yếu và nhu cầu nguyên liệu giảm.

Giá nông sản hôm nay 10/10: Tiêu đi ngang, cà phê rơi đáy 3 tháng
Giá nông sản hôm nay 10/10: Tiêu đi ngang, cà phê rơi đáy 3 tháng

Giá nông sản hôm nay 10/10 ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá hồ tiêu trong nước đi ngang ở mức 135.500-139.000 đồng/kg sau phiên giảm mạnh, trong khi cà phê Tây Nguyên tiếp tục mất 1.000 đồng/kg, xuống 91.200-92.000 đồng/kg - mức thấp nhất kể từ đầu tháng 7.

Giá gas hôm nay 10/10: Đi ngang sau đợt tăng mạnh đầu tháng 10
Giá gas hôm nay 10/10: Đi ngang sau đợt tăng mạnh đầu tháng 10

Giá gas hôm nay 10/10 tiếp tục đi ngang sau đợt điều chỉnh tăng mạnh đầu tháng 10. Giá bình 12kg tại các khu vực dao động 580.000 - 647.352 đồng/bình, trong đó Hải Phòng cao nhất và Cần Thơ thấp nhất, chênh lệch 67.352 đồng/bình.

Giá cao su hôm nay 10/10: Các sàn châu Á đồng loạt tăng
Giá cao su hôm nay 10/10: Các sàn châu Á đồng loạt tăng

Giá cao su hôm nay 10/10 ghi nhận xu hướng tăng tại nhiều thị trường châu Á sau khi Trung Quốc mở cửa trở lại sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh. Giá cao su kỳ hạn tháng 11 tại Thượng Hải tăng 1,85%, trong khi các hợp đồng tại Nhật Bản, Singapore và giá chào xuất khẩu của Thái Lan cũng đi lên. Trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục ổn định.

Giá heo hơi hôm nay 10/10: Chạm đáy 51.000 đồng/kg
Giá heo hơi hôm nay 10/10: Chạm đáy 51.000 đồng/kg

Giá heo hơi hôm nay 10/10 tiếp tục giảm tại nhiều địa phương, đưa mặt bằng chung trên cả nước xuống 51.000 - 54.000 đồng/kg. Đáng chú ý, Nghệ An và Hà Tĩnh cùng giảm còn 51.000 đồng/kg, thấp nhất cả nước, trong khi miền Bắc không còn địa phương nào giữ mốc 55.000 đồng/kg.

Giá sầu riêng hôm nay 10/10: Sầu Thái giảm 5.000 đồng/kg
Giá sầu riêng hôm nay 10/10: Sầu Thái giảm 5.000 đồng/kg

Giá sầu riêng hôm nay 10/10 ghi nhận xu hướng giảm tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đắk Lắk và Lâm Đồng, với mức điều chỉnh từ 2.000 - 5.000 đồng/kg. Đáng chú ý, sầu Thái loại A cơm chuẩn tại Đắk Lắk giảm 5.000 đồng/kg, xuống còn 90.000 - 95.000 đồng/kg.

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 10/10: USD tăng, EUR hướng tới tuần giảm thứ năm
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 10/10: USD tăng, EUR hướng tới tuần giảm thứ năm

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 10/10 ghi nhận đồng USD tăng nhẹ trên thị trường quốc tế, trong khi đồng EUR hướng tới tuần giảm thứ năm liên tiếp do lo ngại về tình hình tài chính công tại Pháp và triển vọng kinh tế khu vực. Trong nước, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng, xuống còn 25.629 đồng/USD.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc