Giao dịch logistics "lai" đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu và chứng từ

Chuyển đổi số đang thúc đẩy ngành logistics nhưng mô hình kết hợp giữa chứng từ giấy và giao dịch điện tử cũng làm gia tăng rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp cần kiểm soát dữ liệu, xác thực chứng từ và xác lập rõ thứ tự ưu tiên để hạn chế tranh chấp.

Ngành logistics Việt Nam đang tăng trưởng nhanh với hơn 34.000 doanh nghiệp, đóng góp khoảng 4.5 - 5% GDP cả nước. Tuy nhiên, chi phí logistics vẫn ở mức khoảng 16% GDP, cao hơn đáng kể so với với các nước phát triển, điều này đặt ra yêu cầu về việc giảm chi phí, nâng cao năng suất và tăng sức cạnh tranh. Trong giai đoạn 2025 - 2035, chiến lược phát triển logistics là tăng cường chuyển đổi số, thúc đẩy giảm chi phí logistics xuống 12 - 15% GDP.

Ở góc độ mô hình lai, tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng hình thức giao dịch này đang ở mức cao. Luật Giao dịch điện tử đã tạo cơ sở pháp lý cho thông điệp dữ liệu, nhưng không phải mọi tệp tin hay email đều có giá trị pháp lý như nhau. Rủi ro chủ yếu phát sinh khi một giao dịch tồn tại nhiều phiên bản nhưng thiếu quy định về thứ tự ưu tiên, thẩm quyền xác nhận, thời điểm chốt và cơ chế lưu trữ. Do đó, doanh nghiệp cần có cơ chế kiểm soát dữ liệu và xây dựng lộ trình số hóa nhằm giảm tranh chấp, tăng khả năng kiểm chứng và bảo đảm an toàn trong giao dịch.

Phát biểu tại Hội nghị Quản trị pháp lý doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh 2026 lĩnh vực logistics với chủ đề “Chuyển đổi số trong giao dịch logistics  - Ứng dụng mô hình lai trong giai đoạn chuyển tiếp”, PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa - Phó Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) nhận định khi yếu tố số hóa đi sâu vào hoạt động kinh doanh, đầu tư, quá trình giải quyết tranh chấp cũng trở nên phức tạp hơn. Trong lĩnh vực logistics, việc sử dụng đồng thời hợp đồng giấy kết hợp nền tảng điện tử, email, lệnh vận chuyển điện tử… có thể làm phát sinh tranh chấp về giá trị pháp lý, tính xác thực và thứ tự ưu tiên của các tài liệu. Đặc biệt, khi tranh chấp được giải quyết tại các cơ quan tài phán, vấn đề không chỉ nằm ở việc dữ liệu có tồn tại hay không, mà còn ở khả năng chứng minh nguồn gốc, tính toàn vẹn và quá trình hình thành của dữ liệu điện tử. Đây là thách thức đáng kể đối với doanh nghiệp logistics trong bối cảnh giao dịch ngày càng được thực hiện trên nhiều nền tảng khác nhau. Vị chuyên gia này lưu ý rằng chuyển đổi số cần đi cùng với quản trị dữ liệu, quy định rõ thứ tự ưu tiên của chứng từ và điều khoản hợp đồng về việc xác lập, lưu trữ, sử dụng chứng cứ điện tử.

Giao dịch logistics
PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa - Phó Chủ tịch VIAC

Trình bày tham luận “Giao dịch logistics và những chuyển biến mới trong bối cảnh chuyển đổi số”, ông Ngô Khắc Lễ - Trọng tài viên VIAC, Hòa giải viên VMC cho rằng quá trình chuyển đổi số trong hoạt động logistics Việt Nam đang diễn ra trên nhiều phân khúc như vận tải, kho bãi, giao nhận, cảng viên, hải quan và thương mại xuyên biên giới, nhưng với tốc độ khác nhau. Các giao dịch lặp lại thường được số hóa nhanh trong khi các chứng từ về quyền sở hữu, thanh toán và bảo đảm ngân hàng còn nhiều thách thức.

Đề cập đến mô hình giao dịch lai, ông Lễ cho rằng vấn đề cốt lõi là phải bảo đảm chứng từ điện tử có giá trị và chức năng pháp lý tương đương chứng từ giấy, đặc biệt đối với các vận đơn điện tử có thể chuyển nhượng. Trong bối cảnh đó, Công ước Liên hợp quốc về Chứng từ hàng hóa có thể chuyển nhượng (NCD Convention) vừa được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua, được đánh giá là một bước tiến quan trọng. Công ước thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất cho chứng từ hàng hóa có thể chuyển nhượng dưới cả dạng giấy và điện tử, qua đó góp phần thúc đẩy công nhận và sử dụng chứng từ điện tử trong giao dịch xuyên biên giới. Đối với Việt Nam, đây có thể là nền tảng quan trọng để ngành logistics tiến tới số hóa xuyên biên giới một cách thực chất và đồng bộ.

Giao dịch logistics
Ông Ngô Khắc Lễ, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Chia sẻ về bức tranh chuyển đổi số nhìn từ thị trường logistics Đồng Nai, ông Nguyễn Duy Hưng  - Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Logistics Đồng Nai  đánh giá, năng lực đầu tư công nghệ và triển khai các giải pháp số giữa các doanh nghiệp logistics đang còn nhiều chênh lệch đáng kể. Một số doanh nghiệp, đặc biệt tại các cảng, ICD và kho vận, đã ứng dụng các giải pháp như quản lý kho, cảng điện tử, lệnh giao hàng điện tử, hóa đơn điện tử, thanh toán không tiền mặt và giám sát hải quan tự động. Tuy nhiên, nhìn chung, quá trình số hóa vẫn chủ yếu tập trung ở từng doanh nghiệp hoặc từng công đoạn, chưa tạo được sự kết nối xuyên suốt giữa doanh nghiệp vận tải, kho bãi, cảng, hãng tàu, chủ hàng và cơ quan quản lý. Đây là điểm nghẽn quan trọng khi Đồng Nai đang hướng tới trở thành trung tâm logistics của khu vực.

Tiếp nối, ông Ngô Khắc Lễ cũng nhận định doanh nghiệp logistics Việt Nam thường không ở trạng thái “paper” (bản giấy) hoặc “paperless” (không dùng bản giấy) hoàn toàn, mà đang ở giữa "số trong - giấy ngoài". Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân khách quan do quy định pháp luật, thông lệ của cơ quan nhà nước và nguyên nhân chủ quan do tâm lý không an tâm, đối tác không có hệ thống đồng bộ… Từ đây, vấn đề không nằm ở việc chuyển đổi số hay chưa mà nằm ở việc các bên có đủ tin cậy để giao dịch qua nền tảng số hay không.

Theo ông Lễ, trước tình trạng đó, thay vì bước nhanh, doanh nghiệp logistics nên chuyển đổi theo lộ trình từ trong ra ngoài, bắt đầu từ nội bộ, sau đó là giữa những đối tác thân quen và tiến xa hơn với các giao dịch xuyên biên giới. Trong quá trình chuyển đổi này, chuyên gia cũng lưu ý doanh nghiệp về việc phải gắn chuyển giao dữ liệu với quyền và nghĩa vụ các bên để tránh rủi ro và tranh chấp phát sinh.

Giao dịch logistics
Các chuyên gia tại hội nghị

Qua thực tiễn hỗ trợ doanh nghiệp, Luật sư Nguyễn Thị Hồng Ngân - Giám đốc Công ty Luật TNHH Tâm Chung nhận định, một giao dịch có thể bao gồm nhiều trao đổi dữ liệu số như email báo giá, zalo/whatsapp, platform log, eBL, eDO... Để đảm bảo việc ứng dụng công nghệ an toàn, chuyên gia khuyến nghị, doanh nghiệp có thể thực hiện các bước báo giá qua nền tảng số, app điện tử, còn quy định về quyền và nghĩa vụ thì nên được đưa vào hợp đồng có đầy đủ thông tin, xác nhận các bên.

Ở phương diện tranh chấp, Luật sư Ngân cũng nêu ra một số đặc thù khi sử dụng chứng cứ điện tử. Theo chuyên gia, việc bị phủ nhận giá trị, khó khăn trong thu thập chứng cứ xuyên biên giới,... là những vấn đề khá phổ biến trong quá trình giải quyết tranh chấp logistics tại tòa án hay trọng tài, qua đó doanh nghiệp không nên đợi tranh chấp mới bắt đầu thu thập và xử lý chứng cứ thay vào đó, doanh nghiệp cần chủ động thiết lập cơ chế quản trị và lưu trữ chứng cứ điện tử ngay từ khi giao dịch bắt đầu; xác định rõ kênh trao đổi chính thức, người có thẩm quyền xác nhận hoặc thay đổi thông tin, cũng như lưu giữ đầy đủ lịch sử giao dịch, nhật ký truy cập và các phiên bản chứng từ liên quan.

Tiếp nối, Luật sư Trương Công Hồng - Luật sư Thành viên Công ty Luật TNHH ANHISA đã phân tích nhiều thực tiễn vụ việc liên quan đến ứng dụng điện tử vào giao dịch logistics và hệ quả của mô hình lai. Luật sư Hồng đã dẫn chiếu một số tình huống và phân tích về việc rủi ro khi sử dụng bản scan chứng từ. Điển hình trong đó có tình huống, chủ hàng gửi bản scan vận đơn cho bên mua trước khi hoàn tất thanh toán đã tạo ra một mắt xích yếu, khi bản scan có thể bị sao chép, chỉnh sửa và sử dụng để làm giả chứng từ, dẫn đến việc hàng hóa được giao khi chủ hàng vẫn chưa nhận được thanh toán.

Từ các vụ việc, vị luật sư này nhận định, việc kết hợp chứng từ giấy với dữ liệu điện tử có thể tạo ra những điểm đứt gãy trong giao dịch. Do đó, mô hình lai cần được thiết kế đi cùng với  thứ tự ưu tiên chứng từ, cơ chế xác thực, phân quyền để tránh phát sinh các tranh chấp về tính xác thực, quyền kiểm soát và trách nhiệm các bên.

Tin khác
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ
TP Hồ Chí Minh thúc đẩy thanh toán không tiền mặt trong hoạt động bán lẻ

Từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống và các hộ kinh doanh nhỏ, thanh toán không dùng tiền mặt đang từng bước trở thành phương thức giao dịch quen thuộc tại TP Hồ Chí Minh. Cùng với sự chuyển dịch này, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy thanh toán số phát triển rộng khắp.

Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng
Nới dòng vốn, giữ 'kỷ luật' tín dụng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi chi phí huy động vốn chịu áp lực và lạm phát cần được theo dõi sát. Bài toán đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận vốn, đồng thời bảo đảm chất lượng cho vay.

Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu
Tăng trưởng ‘hai con số’: Động lực bứt phá của nhóm địa phương dẫn đầu

Theo số liệu, có 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên. Năm địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước gồm Quảng Ninh tăng 12,54%; Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 9 tháng năm 2026, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 15,8%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,9%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,8%, vốn đầu tư thực hiện tăng 10,2% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025.

 Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026
Infographics: Những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 9 tháng năm 2026

Theo Thống kê TP. Hà Nội, 9 tháng năm 2026, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 567,6 nghìn tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 170,8 nghìn tỷ đồng, GRDP tăng 8,85% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019
Sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất kể từ năm 2019

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung, trong khi nhiều ngành sản xuất trọng điểm ghi nhận tốc độ tăng hai con số.

GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
GDP 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng GDP 9 tháng năm 2026 lên 9,01%. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những khu vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế.

Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị
Công nghiệp hỗ trợ và bài toán giữ lại giá trị

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang có thêm cơ hội khi các chuỗi cung ứng toàn cầu mở rộng hiện diện trong nước. Tuy nhiên, việc tham gia chuỗi không chỉ nằm ở khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng mà còn ở mức độ doanh nghiệp Việt có thể đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn, từ công nghệ, vật liệu đến thiết kế và phát triển sản phẩm.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc