Bộ Công thương đề xuất xây dựng "Chiến lược phát triển ngành thép Việt Nam"

Bộ Công Thương vừa có báo cáo số 2152/BCT-CN gửi Thủ tướng Chính phủ về đề xuất xây dựng "Chiến lược phát triển ngành thép Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050". Theo đó, Bộ Công Thương cho rằng, cần có chính sách đặc thù để giúp phát triển hơn nữa ngành thép.

Bộ Công thương cho biết, trong những năm gần đây, ngành thép đã có sự phát triển mạnh mẽ về năng lực cũng như công nghệ. Một số nhà máy thép có công suất lớn, chất lượng thép cao được đầu tư đi vào hoạt động như Khu Liên hợp Gang thép Hòa Phát Dung Quất, Công ty CP Gang thép Nghi Sơn, Khu liên hợp Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh…

Tính đến năm 2021, năng lực sản xuất phôi thép của các doanh nghiệp trong nước là 27 triệu tấn/năm, trong đó thép cuộn cán nóng (HRC) là 7-8 triệu tấn/năm.

Với thép xây dựng, năng lực sản xuất trong nước khoảng 14 triệu tấn sẽ đảm bảo 100% cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như đáp ứng được một phần nhu cầu xuất khẩu. Trong đó, có 42% sản xuất là được sử dụng từ phế liệu thép nhập khẩu; có 58% sản xuất từ lò cao, sử dụng nguyên liệu là quặng sắt. Hay như thép phục vụ ngành cơ khí, chế tạo, Việt Nam cũng đã sản xuất và đáp ứng được một phần thép cuộn cán nóng HRC (khoảng 8 triệu tấn/năm).

Còn đối với các loại thép hợp kim, Việt Nam chưa sản xuất được các loại thép đặc biệt.

Bộ Công thương đề xuất xây dựng
Các doanh nghiệp thép tại Việt Nam đa phần đều có công suất còn nhỏ nên chưa đủ sức cạnh tranh bên ngoài.

Tuy nhiên, bên cạnh các nhà máy xây dựng mới với công suất lớn như Khu liên hợp Gang thép Hòa Phát Dung Quất, Khu liên hợp Gang thép Hưng Nghiệp Formosa, thép Nghi Sơn… thì các nhà máy sản xuất phôi thép còn lại chủ yếu có công suất nhỏ, thiết bị lạc hậu, năng lực sản xuất thép còn nhiều hạn chế. Các sản phẩm thép sản xuất trong nước chưa thể cung cấp đủ nhu cầu thép cho toàn bộ nền kinh tế.

Năng lực cạnh tranh của ngành thép Việt Nam được Bộ Công Thương nhìn nhận là khá thấp khi phần lớn các nguyên liệu đầu vào để sản xuất thép phải nhập khẩu. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại nhà máy có công suất nhỏ, thiết bị lạc hậu, tiêu tốn năng lượng và nguy cơ về môi trường.

Bên cạnh đó, ngành thép của Việt Nam cơ bản phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu nước ngoài như: quặng sắt, thép phế liệu, than mỡ luyện cốc, điện cực graphite… nên khi giá các nguyên liệu đầu vào biến động sẽ làm giá thép thành phẩm trong nước cũng phải điều chỉnh theo thị trường thế giới.

Dự kiến trong năm 2022, Việt Nam phải nhập khẩu nhiều loại nguyên liệu để sản xuất thép như quặng sắt cho các lò cao khoảng hơn 18 triệu tấn, thép phế khoảng 6-6,5 triệu tấn cho các lò điện, than mỡ luyện cốc khoảng 6,5 triệu tấn và điện cực graphite khoảng 10.000 tấn… với dự báo giá quặng sắt, thép phế, quặng nguyên liệu thô và than mỡ luyện cốc… vẫn duy trì ở mức cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất thép và thị trường thép trong nước.

Đáng chú ý, trong giai đoạn 2016-2021, ngành công nghiệp thép đã có sự phát triển nhanh nhưng mất cân đối giữa phát triển thượng nguồn và hạ nguồn. Các sản phẩm sau thép như tôn mạ kẽm, thép ống tăng trưởng tốt về giá trị sản xuất và xuất khẩu. Trong khi đó, các chủng loại thép hợp kim, đặc biệt là HRC - nguyên liệu đầu vào cần thiết cho nhiều ngành như sản xuất thép cán nguội (CRC), tôn mạ, ống thép, đóng tàu, cơ khí chế tạo có nhu cầu lớn, song năng lực sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên dẫn đến tiếp tục phải nhập khẩu với số lượng lớn.

Về lâu dài, để đảm bảo nhu cầu thép cuộn cán nóng HRC và các loại thép hợp kim, thép chất lượng cao trong nước cần tiếp tục thu hút và đầu tư một số Nhà máy liên hợp sản xuất thép lớn để phục vụ nhu cầu nội địa, giảm dần sự phụ thuộc vào thép nhập khẩu.

Chưa có chính sách đặc thù hỗ trợ ngành thép

Theo báo cáo, ngành thép có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là ngành công nghiệp nền tảng, vật liệu đầu vào cho các ngành kinh tế quan trọng của đất nước như cơ khi chế tạo, công nghiệp hỗ trợ... Mặt khác, phát triển công nghiệp sản xuất thép lớn mạnh cũng là tạo nền tảng vững chắc và phát triển thị trường cho các ngành chế biến chế tạo, xây dựng, cơ khí... góp phần tạo nguồn cung ứng ổn định và nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động của các ngành công nghiệp.

Ngành thép cũng đóng góp quan trọng cho quá trình chuyển dịch, đô thị hóa đất nước, tác động nhiều mặt đến sự phát triển kinh tế- xã hội. Với mức tiêu thụ thép trên bình quân đầu người của Việt Nam (khoảng 240kg/1 người/năm) còn rất thấp so với các nước trong khu vực như Malaysia, Trung Quốc, dư địa và tiềm năng phát triển của ngành thép Việt Nam trong thời gian tới là rất lớn. Mặc dù ngành thép có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng Bộ Công Thương cho rằng, tại thời điểm hiện tại, Việt Nam không có chính sách đặc thù, riêng biệt để thúc đẩy, cũng như định hướng để phát triển ngành thép.

"Tự chủ về sản xuất thép trong nước là yêu cầu tất yếu của việc tự chủ nguồn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng của người dân, cũng như quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất quốc gia. Do đó, để ngành thép phát triển bền vững và ổn định, Nhà nước cần phải xây dựng chính sách đủ mạnh để thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp thép tạo nền tảng cơ bản cho công nghiệp hóa theo hướng hiện đại và bền vững", báo cáo của Bộ Công Thương nêu rõ.

Để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam cần có các định hướng chính sách để phát triển mạnh ngành luyện kim, vật liệu, đặc biệt là các loại thép chế biến chế tạo.

Thứ nhất với chủng loại HRC: trong giai đoạn tới cần phát triển đầu tư thêm các dự án sản xuất lớn. Đây là loại thép chiến tỷ trọng lớn trong ngành chế biến chế tạo.

Thứ hai, với thép hợp kim và đặc biệt phục vụ ngành cơ khí, Việt Nam cần xây dựng các tổ hợp luyện kim có quy mô lớn trong đó tập trung vào sản xuất các loại thép chế biến chế tạo có trình độ công nghệ có dung lượng thị trường lớn để bước đầu làm chủ công nghệ sản xuất các loại thép chế biến chế tạo cơ bản.

Báo cáo cũng đề cập tới vấn đề Nhà nước có các chính sách ưu đãi về đất đai, hạ tầng, về khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực để khuyến khích, thúc đẩy các dự án thép phát triển nhằm hình thành phát triển mạnh ngành luyện kim, đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Theo dự báo sơ bộ, tổng nhu cầu thị trường các ngành chế tạo của Việt Nam giai đoạn đến năm 2030 có thể đạt tới 310 tỷ USD. Trong đó, nhu cầu thị trường từ cơ khí phục vụ công trình công nghiệp là 120 tỷ USD; cơ khí phục vụ xây dựng, nông nghiệp, chế biến là 15 tỷ USD; thiết bị tiêu chuẩn là 10 tỷ USD; giao thông đường sắt là 35 tỷ USD; tàu điện ngầm là 10 tỷ USD và ô tô là 120 tỷ USD.

Đây sẽ là thị trường rất lớn cho ngành thép trong nước, đặc biệt là các loại thép chế tạo, thép hợp kim chất lượng cao phục vụ các ngành công nghiệp chế tạo, vốn là phân khúc hiện nay Việt Nam chưa tự chủ được trong sản xuất thép nội địa.

Theo dự báo sơ bộ, tổng nhu cầu thị trường các ngành chế tạo của Việt Nam giai đoạn đến năm 2030 có thể đạt tới 310 tỷ USD. Trong đó, nhu cầu thị trường từ cơ khí phục vụ công trình công nghiệp là 120 tỷ USD; cơ khí phục vụ xây dựng, nông nghiệp, chế biến là 15 tỷ USD; thiết bị tiêu chuẩn là 10 tỷ USD; giao thông đường sắt là 35 tỷ USD; tàu điện ngầm là 10 tỷ USD và ô tô là 120 tỷ USD. Đây sẽ là thị trường rất lớn cho ngành thép trong nước, đặc biệt là các loại thép chế tạo, thép hợp kim chất lượng cao phục vụ các ngành công nghiệp chế tạo, vốn là phân khúc hiện nay Việt Nam chưa tự chủ được trong sản xuất thép nội địa.

Tin liên quan
Tin khác
Sau sáp nhập, địa phương nào đang dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người?
Sau sáp nhập, địa phương nào đang dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người?

Hà Nội dẫn đầu bảng xếp hạng thu nhập bình quân đầu người của 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập, với 8,37 triệu đồng/tháng. Theo sau là TP.HCM, Đồng Nai, Hải Phòng và Quảng Ninh.

Kết nối doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường vào Hoa Kỳ
Kết nối doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường vào Hoa Kỳ

Dù đối mặt với áp lực phòng vệ thương mại gia tăng, Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng vẫn đứng trước cơ hội thâm nhập sâu vào thị trường Mỹ.

Ổn định mặt bằng giá, kiểm soát lạm phát nửa cuối năm
Ổn định mặt bằng giá, kiểm soát lạm phát nửa cuối năm

Mặc dù áp lực lạm phát được dự báo gia tăng trong nửa cuối năm 2026 do tác động từ giá năng lượng, chi phí đầu vào và nhu cầu tiêu dùng theo mùa, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam vẫn có cơ sở để kiểm soát mặt bằng giá nếu tiếp tục điều hành linh hoạt chính sách tài khóa, tiền tệ và chủ động bảo đảm nguồn cung hàng hóa.

Hơn 2,6 tỷ USD đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp TP.HCM
Hơn 2,6 tỷ USD đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp TP.HCM

Tính đến ngày 30/6/2026, các khu chế xuất và khu công nghiệp tại TP.HCM đã đạt hơn 61% chỉ tiêu thu hút đầu tư của cả năm với 2.611,24 triệu USD. Trong giai đoạn tới, thành phố định hướng tái cấu trúc hệ thống này theo mô hình thế hệ mới, ưu tiên công nghiệp công nghệ cao, hướng tới phát triển bền vững.

Xây dựng 'lá chắn' liên ngành bảo vệ chuỗi giá trị sầu riêng
Xây dựng 'lá chắn' liên ngành bảo vệ chuỗi giá trị sầu riêng

Mùa thu hoạch sầu riêng năm 2026 đang bước vào cao điểm trong bối cảnh ngành hàng này đối mặt với nhiều áp lực từ yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.

Kiểm soát lạm phát để chính sách tiền lương phát huy hiệu quả
Kiểm soát lạm phát để chính sách tiền lương phát huy hiệu quả

Việc điều chỉnh lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng/tháng từ ngày 1/7/2026 được kỳ vọng cải thiện thu nhập cho hơn 2 triệu cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, điều quan trọng không chỉ là mức lương tăng thêm mà còn là khả năng giữ ổn định mặt bằng giá, bảo vệ sức mua thực tế của người lao động trong bối cảnh áp lực lạm phát vẫn hiện hữu.

Đầu tư công 6 tháng đạt 35,5% kế hoạch, hai dự án đường sắt trọng điểm giải ngân còn chậm
Đầu tư công 6 tháng đạt 35,5% kế hoạch, hai dự án đường sắt trọng điểm giải ngân còn chậm

Đến hết ngày 30/6/2026, cả nước đã giải ngân khoảng 356.935 tỷ đồng vốn đầu tư công, tương đương 35,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Mặc dù giá trị giải ngân tăng hơn 38.361 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thực hiện vẫn thấp hơn 0,5 điểm phần trăm, trong bối cảnh nhiều dự án tiếp tục gặp vướng mắc về giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu và công tác tổ chức thực hiện.

Chuyển đổi xanh đối với các khu công nghiệp: Chìa khóa cạnh tranh toàn cầu
Chuyển đổi xanh đối với các khu công nghiệp: Chìa khóa cạnh tranh toàn cầu

Xu hướng chuyển đổi mô hình khu công nghiệp (KCN) truyền thống sang KCN xanh đã trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu đồng thời thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao.

Tin mới
Đọc nhiều
Xu hướng đọc