Cuộc cạnh tranh không đơn thuần là “giá rẻ” khi hàng Trung chiếm ưu thế về nguồn cùng
Thị trường Việt Nam đang chứng kiến sự gia tăng mạnh của dòng hàng nhập khẩu, đặc biệt từ các thị trường có lợi thế lớn về quy mô sản xuất, chi phí và chuỗi cung ứng. Đây là xu hướng tất yếu khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào thương mại quốc tế, song cũng đặt doanh nghiệp trong nước trước một cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt ngay trên sân nhà.
Số liệu của Cục Hải quan cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt hơn 445 tỷ USD, trong đó cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu gần 14 tỷ USD. Đáng chú ý, có tới 36 nhóm hàng nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 91,2% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong khi đó, tính đến ngày 15/7/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt hơn 601 tỷ USD; riêng nhập khẩu khoảng 311 tỷ USD, cao hơn xuất khẩu khoảng gần 21 tỷ USD.
Những con số này phản ánh quy mô ngày càng lớn của dòng hàng hóa từ bên ngoài vào Việt Nam. Đặc biệt là hàng hóa từ Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung nhập khẩu lớn nhất. Trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng gần 93 tỷ USD, tăng 33,6% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt gần 32 tỷ USD, tăng tới 65,37% và chiếm hơn 34% tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này.
Nếu tính riêng quý I/2026, nhập khẩu từ Trung Quốc đạt hơn 50 tỷ USD, tăng 31,5% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này đạt gần 17 tỷ USD. Như vậy, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc tới hơn 33 tỷ USD chỉ trong ba tháng đầu năm.
Đáng chú ý, sức ép từ hàng nhập khẩu không chỉ nằm ở hàng tiêu dùng cuối cùng. Nhiều nguyên vật liệu, linh kiện, máy móc và sản phẩm trung gian cũng có nguồn gốc nhập khẩu. Trong 4 tháng đầu năm, riêng sắt thép các loại và sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc đạt hơn 3,7 tỷ USD, tăng 7,1%. Nhóm chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm trong quý I/2026 nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, đạt gần 2,8 tỷ USD, tăng 28,1%.
Theo đó, một mặt, nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và thiết bị giúp doanh nghiệp Việt Nam giảm chi phí đầu vào, mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Mặt khác, khi chính những sản phẩm hoàn thiện tương tự được nhập khẩu với giá cạnh tranh, doanh nghiệp nội địa lại phải đối mặt với sức ép trực tiếp về thị phần.
Đặc biệt, lợi thế của hàng nhập khẩu giá thấp không chỉ đến từ giá xuất xưởng. Các nhà sản xuất lớn có khả năng tổ chức sản xuất với quy mô rất lớn, tự động hóa cao, tối ưu logistics và xây dựng chuỗi cung ứng hoàn chỉnh. Khi sản lượng đủ lớn, chi phí trên mỗi sản phẩm được kéo xuống đáng kể. Đây là lợi thế mà không phải doanh nghiệp Việt Nam nào cũng có và đủ sức ‘so găng’ với các tập đoàn xuyên quốc gia.
Trước đây, khi nói đến hàng nhập khẩu giá rẻ, thị trường thường tập trung vào các nhóm sản phẩm như quần áo, đồ gia dụng, đồ điện tử, phụ kiện, đồ chơi hay hàng tiêu dùng phổ thông. Tuy nhiên, cạnh tranh hiện nay đã thay đổi nhanh chóng.
Thương mại điện tử xuyên biên giới khiến hàng hóa từ các trung tâm sản xuất lớn có thể tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng Việt Nam. Người mua chỉ cần vài thao tác trên nền tảng số đã có thể so sánh hàng trăm sản phẩm, mức giá và đánh giá của người dùng.
Điều này làm thay đổi cách cạnh tranh của thị trường. Doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh với cửa hàng bên cạnh mà còn cạnh tranh với nhà cung cấp ở nước ngoài có khả năng tiếp cận trực tiếp khách hàng.
Trong khi đó, người tiêu dùng Việt Nam vẫn có độ nhạy khá cao với giá. Khi thu nhập và sức mua phục hồi nhưng người tiêu dùng ngày càng có xu hướng cân nhắc kỹ giá trị nhận được trên mỗi đồng chi tiêu, sản phẩm có mức giá thấp dễ tạo lợi thế trong những phân khúc phổ thông.
Nếu doanh nghiệp nội địa chỉ lựa chọn giảm giá để đối đầu, biên lợi nhuận sẽ nhanh chóng bị bào mòn. Đây là vấn đề đáng lưu ý trong bối cảnh chi phí mặt bằng, nhân công, logistics, công nghệ và tuân thủ ngày càng tăng.
Nói cách khác, bài toán không phải là làm thế nào để hàng Việt luôn rẻ hơn hàng nhập khẩu. Trong nhiều trường hợp, điều này gần như không khả thi. Vấn đề quan trọng hơn là doanh nghiệp Việt Nam phải tạo ra lý do để người tiêu dùng chấp nhận trả mức giá cao hơn. Đó có thể là chất lượng ổn định, thiết kế phù hợp thị hiếu, dịch vụ hậu mãi, tốc độ giao hàng, bảo hành, khả năng truy xuất nguồn gốc hoặc uy tín thương hiệu.
Không thể ngăn hàng rẻ, phải nâng sức cạnh tranh và phòng vệ thương mại
Sự gia tăng của hàng nhập khẩu giá rẻ không đồng nghĩa với việc cần hạn chế nhập khẩu. Việt Nam vẫn cần nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị và hàng hóa để phục vụ sản xuất, tiêu dùng và hội nhập. Vấn đề nằm ở việc bảo đảm cạnh tranh công bằng.
Nếu hàng nhập khẩu có giá thấp nhờ lợi thế sản xuất thực sự, đây là sức ép tích cực buộc doanh nghiệp Việt Nam nâng năng suất. Nhưng nếu có hiện tượng bán phá giá, trợ cấp không phù hợp, gian lận xuất xứ, khai sai giá trị hoặc né tránh các biện pháp phòng vệ thương mại, thị trường sẽ bị méo mó.
Đây cũng là lý do công cụ phòng vệ thương mại ngày càng quan trọng. Bộ Công Thương cho biết quy mô doanh thu của các doanh nghiệp được bảo vệ bởi các biện pháp phòng vệ thương mại trong những năm qua ước tính khoảng 600.000 tỷ đồng với việc duy trì 37 biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng nhập khẩu.
Trong năm 2026, cơ quan quản lý tiếp tục duy trì hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại, cho thấy việc theo dõi dòng hàng nhập khẩu và nguy cơ cạnh tranh không công bằng ngày càng được chú trọng.
Hoạt động kiểm tra thị trường cũng cho thấy vấn đề hàng không rõ nguồn gốc, hàng giả, hàng lậu và vi phạm trên môi trường thương mại điện tử vẫn phức tạp. Chỉ riêng Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2026, lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra 2.992 vụ, xử lý 2.864 vụ vi phạm, chuyển 43 vụ có dấu hiệu hình sự sang cơ quan điều tra; trị giá hàng hóa vi phạm bị tịch thu, tiêu hủy gần 48 tỷ đồng.
Đáng chú ý, Bộ Công Thương cũng cho biết trong 6 tháng đầu năm, các lực lượng chức năng đã phối hợp với các sàn thương mại điện tử gỡ bỏ hơn 9.000 sản phẩm vi phạm, cho thấy môi trường kinh doanh trực tuyến đang trở thành một mặt trận quan trọng trong kiểm soát hàng hóa.
Tuy nhiên, phòng vệ thương mại chỉ là một phần của câu chuyện. Về dài hạn, doanh nghiệp Việt Nam không thể dựa vào hàng rào thuế quan để bảo vệ thị trường. Khi các hiệp định thương mại tự do tiếp tục mở rộng, áp lực cạnh tranh sẽ ngày càng lớn. Do đó, lợi thế bền vững phải đến từ năng suất, công nghệ và khả năng kiểm soát chi phí.
Bởi, một trong những điểm yếu lớn của doanh nghiệp nội địa là quy mô sản xuất còn hạn chế. Khi mua nguyên liệu với số lượng nhỏ, chi phí đầu vào cao hơn; sản xuất với quy mô nhỏ khiến chi phí cố định phân bổ trên từng sản phẩm lớn; khả năng đầu tư công nghệ và tự động hóa cũng hạn chế.
Trong khi đó, doanh nghiệp nước ngoài có thể tận dụng thị trường Việt Nam như một phần của chuỗi cung ứng khu vực. Chính quy mô lớn giúp họ tạo ra mức giá mà doanh nghiệp nhỏ trong nước khó theo kịp. Vì vậy, thay vì chạy theo cuộc đua giá thấp, hàng Việt cần chuyển sang cạnh tranh bằng giá trị.
Doanh nghiệp cần đầu tư mạnh hơn vào thương hiệu, thiết kế, chất lượng và trải nghiệm khách hàng. Với nhóm hàng tiêu dùng, yếu tố nguồn gốc và độ tin cậy có thể trở thành lợi thế. Với hàng công nghiệp, năng lực cung ứng ổn định, tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng giao hàng đúng hạn có thể quan trọng hơn vài phần trăm chênh lệch giá.
Đặc biệt, việc nâng tỷ lệ nội địa hóa cũng có ý nghĩa quan trọng. Khi doanh nghiệp trong nước phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu, lợi thế cạnh tranh dễ bị ảnh hưởng bởi tỷ giá, cước vận tải, chính sách thương mại hoặc biến động nguồn cung.
Dòng hàng nhập khẩu giá rẻ sẽ tiếp tục hiện diện tại Việt Nam khi thị trường ngày càng mở và thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển. Đây vừa là sức ép, vừa là phép thử đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa.
Bài toán của hàng Việt vì thế không phải dựng thêm những “bức tường” để ngăn hàng ngoại, mà là xây dựng năng lực đủ mạnh để đứng vững khi cánh cửa thị trường mở rộng. Khi giá không còn là lợi thế tuyệt đối, thương hiệu, chất lượng, công nghệ, tốc độ và khả năng thấu hiểu người tiêu dùng sẽ quyết định doanh nghiệp nào giữ được thị phần.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
