Giá cà phê tiếp tục tăng, áp sát mốc 100.000 đồng/kg
Thị trường cà phê trong nước ngày 7/8 tiếp tục ghi nhận đà tăng tại các vùng nguyên liệu trọng điểm Tây Nguyên. Giá cà phê hôm nay tăng khoảng 500 - 700 đồng/kg so với ngày trước, đưa mặt bằng thu mua lên 98.300 - 99.000 đồng/kg.
Đáng chú ý, mức giá hiện tại là mức cao nhất ghi nhận kể từ đầu tháng 2/2026, cho thấy đà phục hồi đáng kể của thị trường cà phê sau giai đoạn biến động.
Tại Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá cà phê tăng mạnh nhất, thêm 700 đồng/kg lên 99.000 đồng/kg. Đây tiếp tục là địa phương có mức giá thu mua cao nhất cả nước.
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng 500 đồng/kg, lên 98.800 đồng/kg.
Trong khi đó, Lâm Đồng tăng 500 đồng/kg lên 98.300 đồng/kg, song vẫn là địa phương có giá thấp nhất trong nhóm vùng nguyên liệu trọng điểm được khảo sát.
Như vậy, giá cà phê nội địa đang tiến rất gần mốc 100.000 đồng/kg. Diễn biến này được hỗ trợ bởi xu hướng tăng trên các sàn giao dịch quốc tế trong những phiên gần đây.
Trên sàn London, giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 9/2026 tăng 37 USD/tấn, tương đương 0,96%, lên 3.891 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng thêm 31 USD/tấn, tương đương 0,8%, lên 3.884 USD/tấn.
Tại sàn New York, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 9/2026 tăng 2,8 US cent/pound, tương đương 0,86%, lên 326,9 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 tăng 2,65 US cent/pound, tương đương 0,86%, lên 311,45 US cent/pound.
Theo Reuters và Barchart, giá cà phê đồng loạt tăng trong phiên giao dịch ngày thứ Tư, trong đó robusta lên mức cao nhất trong khoảng một tuần.
Diễn biến tích cực trên thị trường quốc tế đang tạo thêm động lực cho giá cà phê trong nước. Tuy nhiên, mức giá tiến sát 100.000 đồng/kg cũng cho thấy thị trường đang ở vùng cao và có thể tiếp tục nhạy cảm trước những thay đổi về nguồn cung, nhu cầu cũng như diễn biến trên các sàn kỳ hạn.
Giá hồ tiêu ổn định, thị trường xuất khẩu có tín hiệu tích cực
Trái với cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước ngày 7/8 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Giá tiêu tại các vùng nguyên liệu trọng điểm dao động trong khoảng 138.000 - 141.000 đồng/kg.
Đắk Nông, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất cả nước với 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau với mức 140.000 đồng/kg.
Tại Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP Hồ Chí Minh, giá tiêu được các đại lý thu mua phổ biến ở mức 138.000 đồng/kg.
Nhìn chung, thị trường hồ tiêu nội địa chưa xuất hiện biến động đáng kể sau nhiều phiên giao dịch đi ngang. Hoạt động mua bán diễn ra tương đối thận trọng, trong khi nguồn cung và nhu cầu chưa tạo ra yếu tố đủ mạnh để hình thành xu hướng giá mới.
Ở thị trường xuất khẩu, diễn biến tích cực hơn được ghi nhận tại một số nguồn cung lớn. Theo cập nhật của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tăng 21 USD/tấn, tương đương 0,31%, lên 6.813 USD/tấn.
Đáng chú ý, giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tăng 200 USD/tấn, tương đương 3,51%, lên 5.900 USD/tấn.
Malaysia tiếp tục duy trì giá tiêu đen ở mức 9.300 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục ổn định trong khoảng 5.970 - 6.050 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 28 USD/tấn, tương đương 0,3%, lên 9.328 USD/tấn.
Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam cũng tăng thêm 50 USD/tấn lên 8.400 USD/tấn. Malaysia tiếp tục giữ nguyên mức giá 12.200 USD/tấn.
Diễn biến trên cho thấy thị trường hồ tiêu xuất khẩu đang có sự cải thiện nhất định ở một số phân khúc, dù giá thu mua trong nước vẫn chưa có nhiều thay đổi.
Giá lúa gạo giao dịch chậm, xuất khẩu biến động trái chiều
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 7/8 ghi nhận giao dịch khá chậm. Giá lúa mới có xu hướng nhích nhẹ trong bối cảnh nông dân tại nhiều địa phương tiếp tục neo giá cao, trong khi thương lái chủ yếu thu mua những nguồn hàng đã đặt cọc từ trước.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 tăng 50 đồng/kg, lên khoảng 9.750 - 9.850 đồng/kg.
Ngược lại, gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm 50 đồng/kg, xuống khoảng 9.750 - 9.850 đồng/kg.
Giá gạo nguyên liệu OM 5451 duy trì ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 khoảng 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 khoảng 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc thơm cùng dao động khoảng 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Đối với các mặt hàng phụ phẩm, tấm thơm được giao dịch khoảng 8.600 - 8.700 đồng/kg, trong khi giá cám ở mức 7.700 - 7.850 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo nhìn chung không thay đổi. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có mức giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài được bán khoảng 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài khoảng 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg.
Các loại gạo phổ biến khác như Jasmine, Đài thơm, gạo trắng thông dụng và gạo thường tiếp tục giữ mặt bằng giá tương đối ổn định.
Phân khúc nếp cũng không có biến động đáng kể. Nếp IR 4625 tươi được giao dịch khoảng 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp 3 tháng khô ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Đối với lúa tươi, IR 50404 dao động khoảng 6.100 - 6.200 đồng/kg; Đài Thơm 8 khoảng 6.900 - 7.100 đồng/kg; OM 5451 khoảng 6.500 - 6.600 đồng/kg; OM 18 khoảng 6.900 - 7.000 đồng/kg và OM 34 khoảng 6.100 - 6.300 đồng/kg.
Tại An Giang, lúa thơm đang trong giai đoạn thu hoạch rộ nhưng giao dịch lúa mới khá chậm. Nông dân tiếp tục có xu hướng neo giá, khiến giá lúa có chiều hướng tăng nhẹ.
Tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, tình trạng tương tự cũng được ghi nhận khi nông dân giữ giá cao, trong khi lượng giao dịch mới chưa nhiều.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam diễn biến trái chiều so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm tăng 5 USD/tấn, lên khoảng 367 - 371 USD/tấn.
Gạo thơm 5% tấm tiếp tục được chào bán trong khoảng 500 - 510 USD/tấn, trong khi giá gạo Jasmine giảm 5 USD/tấn, xuống khoảng 541 - 545 USD/tấn.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo cũng biến động nhẹ. Gạo 5% tấm của Thái Lan giảm 3 USD/tấn, xuống khoảng 450 - 454 USD/tấn; gạo 100% tấm giảm 5 USD/tấn, còn khoảng 377 - 381 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được giao dịch khoảng 361 - 365 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm tăng 1 USD/tấn lên khoảng 292 - 296 USD/tấn.
Theo số liệu của Cục Thống kê, trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 5,53 triệu tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu giảm 7,1%, xuống còn 2,62 tỷ USD.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
